Monday, January 3, 2011

Trần Trung Chính-THỬ , THÁCH VÀ THỬ THÁCH LÀ MỘT ?

THỬ , THÁCH VÀ THỬ THÁCH LÀ MỘT ?
Trần Trung Chính
Biến động miền Trung năm 1966 là một sự kiện lịch sử của Việt Nam Cộng Hòa, trong đó một số quân nhân và viên chức địa phương của vùng miền Bắc Trung Nguyên Trung phần bao gồm tỉnh Quảng Trị, tỉnh Thừa Thiên và tỉnh Quảng Nam (kể cả thị xã Đà Nẵng, lúc đó mang danh xưng là đặc khu Quảng Đà ) đã nghe theo lời xúi dại của một số lãnh tụ Phật Giáo địa phương mưu toan cướp chính quyền để khuynh đảo chính trường Việt Nam Cộng Hòa.
Cựu Thiếu Tá Nguyễn Phúc Liên Thành vừa mới xuất bản quyển sách mô tả những dữ kiện khởi đầu từ biến cố biến động miền Trung (xảy ra phần lớn tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên ) năm 1966 cho đến khi ông rời khỏi chức vụ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Thừa Thiên vào năm 1974. Ngay lập tức đã có một số tín đồ của tầng lớp tăng lữ Bình Trị Thiên lên tiếng phản bác, tôi không sử dụng nhóm chữ “tín đồ Phật Giáo” vì những phật tử ở các địa phương khác không có lên tiếng bênh vực cho các hành vi chính trị của các tăng lữ Bình Trị Thiên.. Tôi có đọc những trao đổi qua lại trên “net” của các ông "quan năm" Trần văn Thưởng (Khóa 17 trường VBQGDalat), Phạm hoài Việt, Bảo Quốc Kiếm (bút hiệu của ông Trương Khôi)…v…v…nhưng tôi không đánh giá cao các lời phản bác của các vị này, vì tất cả họ đều là phật tử người Huế và Thừa Thiên thì dĩ nhiên họ phải bênh vực một cách mù quáng những người mà họ gọi là “thầy” của họ để tung hỏa mù hầu chạy tội “tay sai cộng tác với Việt Cộng” của các nhà sư Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu …mà thôi.
Những lời chỉ trích của nhóm Chấn Hưng Phật Giáo ở hải ngoại và một số huynh trưởng tổ chức Gia Đình Phật Tử tại Huế như Lê Công Cầu, như Trần Kiêm Đoàn cũng chỉ có tính cách “đệ tử” bênh “sư phụ”, đối với tôi hoàn toàn vì lý do cảm tính, không đủ tư cách để được liệt vào sử liệu hay hồ sơ truy tố về mặt pháp lý – nếu có.
Tôi gọi là “cảm tính” vì họ cho rằng ông Liên Thành hành xử như ông đã kể ra trong quyển sách BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG là có hại cho Phật Giáo, trong khi là một Phật Tử Quốc Gia, tôi chỉ thấy ông Liên Thành không hề “đặt điều nói xấu Phật Giáo” mà ông chỉ nói đến những hành động xấu xa có thực của một số tăng lữ trong địa phương Bình Trị Thiên mà thôi. Chuyện kể của ông Liên Thành đặt trên nền tảng quyền lợi quốc gia và an ninh của dân chúng Thừa Thiên - Huế. Ai cũng biết Phật Giáo bao gồm Phật, Pháp và Tăng, ông Liên Thành không hề chống phá hay bài xích giáo lý hay triết thuyết Phật giáo, ông cũng không lạm bàn đến các pháp môn tu tập của các vị tăng, việc ông nói trong quyển sách BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG là nói đến những hoạt động liên quan đến việc đời, liên quan đến chính trị của một số tăng lữ Huế - Bình Trị Thiên thì làm sao gọi là chống Phật giáo ? Cách lập luận như các ông Bảo Quốc Kiếm, quan năm Trần văn Thưởng, Phạm hoài Việt là cách ăn nói hồ đồ vì nhà sư Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Trí Thủ… không phải là đại diện cho tập thể tầng lớp tăng lữ của Phật Giáo Việt Nam.
Tôi gọi là quan năm Trần văn Thưởng mà không gọi là Trung Tá Trần văn Thưởng vì tuy đã tốt nghiệp khóa 17 Trường VBQGDalat ra trường năm 1963 tới năm 1975 đeo lon Trung Tá nhưng thực chất vẫn là một ông quan đi làm “tà lọt” cho các ông quan khác (hiện nay ông làm “tà lọt” cho các ông sư hoạt động có lợi cho Việt Cộng), phương châm của Trường Võ Bị Quốc Gia Dalat là “Tự Thắng Để Chỉ Huy ”, nhưng tôi nhận ra ông Trần văn Thưởng không biết “tự thắng” và dường như ông cũng chưa bao giờ “chỉ huy” một đơn vị nào cả (theo như ông kể, tôi đoán ông là “lính nghề” nên chỉ thấy được đưa đi học chuyên môn chứ không thấy ông kể ông đã chỉ huy đơn vị nào hết !)Danh xưng Sĩ Quan trong quân đội – theo tôi hiểu là các vị làm quan trong quân đội nhưng ý thức được vai trò Kẻ SĨ của một người có học. Ý thức này được ghi rõ trong huy hiệu của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, đó là TỔ QUỐC – DANH DỰ- TRÁCH NHIỆM.
Ông Trần văn Thưởng không biết TỰ THẮNG khi ông tự khoe mình là người học giỏi,là thành phần ưu tú nên đậu Tú Tài II và trúng tuyển vào trường VBQGDalat khóa 17, trong khi ông chê ông Liên Thành học dở không đậu Tú Tài II rồi phải đi lính khóa 16 Thủ Đức (thời 1962-1963-1964… Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho phép những người chỉ có chứng chỉ Trung Học Đệ Nhất Cấp nhập học Trường Bộ Binh Thủ Đức và tốt nghiệp về làm sĩ quan của lực lượng Bảo An) . Tôi lấy làm lạ hết sức vì sự tự hào của quan năm Trần văn Thưởng là một sự tự hào vô lối và kệch cỡm, vì trong cả quyển sách BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG, tôi không thấy ông Liên Thành khoe mình là thành phần ưu tú bao giờ, đó là chưa kể ông quan năm Trần văn Thưởng coi tất cả những người tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức không phải là thành phần ưu tú của đất nước Việt Nam, mà chỉ có những người tốt nghiệp trường VBQGDalat mới là thành phần ưu tú thôi sao? Nếu đúng như sự suy đoán của tôi, có lẽ quan năm Trần văn Thưởng coi các ông Lê Nguyên Khang , Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Ngọc Loan, Nguyễn Khoa Nam, Ngô Quang Trưởng, Bùi Thế Lân, Lê Quang Lưỡng, Lê Văn Hưng… cũng không ra gì (vì các vị tướng này đều xuất thân từ trường Bộ Binh Thủ Đức ).
Tôi không coi ông Trần văn Thưởng là sĩ quan vì khi đọc những lời chỉ trích chê bai ông Liên Thành tôi chỉ thấy ông bênh vực cho “các ông thầy chùa” của ông, lấy danh dự của một người có nhiều bằng cấp và danh dự của một đứa trẻ con sống lâu năm cũng như trách nhiệm của một “đệ tử” tận tụy bênh vực cho những ông “thầy”. Trong khi tôi lại thấy ông Liên Thành học dở hơn ông, kém may mắn hơn ông nhưng biết đặt TỔ QUỐC trên hết, biết hành xử DANH DỰ của một quân nhân với mục đích Bảo Quốc An Dân, và biết hành xử TRÁCH NHIỆM của một cấp chỉ huy luôn dấn thân đi đầu trong các công tác nguy hiểm và dám nhận chịu trách nhiệm về các hành vi của mình. Theo tôi, sĩ quan chỉ huy là người luôn luôn làm quyết định (make decision) chứ không phải là kẻ thừa hành chỉ biết tuân lệnh : tôi không thấy quan năm Trần văn Thưởng tự khoe những thành tích làm quyết định của ông ta, nên tôi cho rằng ông Trần văn Thưởng dù sống tới 70-80 tuổi vẫn là trẻ con sống lâu năm chứ không được xem là người trưởng thành già dặn !!
Mới đây ông Lê Công Cầu – một huynh trưởng của tổ chức Gia Đình Phật Tử ở Huế -cũng đưa ra bằng chứng để miệt thị ông Liên Thành khi ông Liên Thành có ghi danh học Đại Học Luật Khoa Huế, ông Lê Công Cầu có hỏi ông Tổng Thư Ký trường Đại Học Luật Khoa Huế là sao ông Liên Thành không có bằng Tú Tài mà được ghi danh học Luật Khoa…Khi đưa ra bằng chứng này, chứng tỏ Lê Công Cầu không hiểu biết gì về ngành Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, từ năm 1971 trở về sau, các cấp chỉ huy Cảnh Sát Quốc Gia như Chỉ Huy Trưởng Tỉnh,Chỉ Huy Trưởng Quận,Trưởng Cuộc Cảnh Sát…đều là các sĩ quan tư pháp cảnh lại, có tuyên thệ và đều là phụ tá cho ông Biện Lý tại địa phương trách nhiệm, cho nên ông Liên Thành ghi danh học Luật là để lấy chứng chỉ năng lực về Luật nhằm thi hành công vụ chứ ông Liên Thành không có học Luật để sau này ra làm Biện Lý Công Tố, Chánh Án, Dự Thẩm hay Luật Sư, hay tệ hại như ông Lê Cộng Cầu nghĩ là ông Liên Thành đi “ lòe ” dân Huế để khỏa lấp mặc cảm thiếu bằng cấp đại học chăng ?
Xin nhắc nhở quan năm Trần văn Thưởng và ông cựu huynh trưởng GĐPT Lê Công Cầu một câu nói của một triết gia Tây phương (mà tôi quên tên) , như sau : “ giá trị của con người không nằm ở gốc gác xuất xứ của người đó, mà giá trị đích thực là hướng mà người đó nhắm tới ”.
Theo sự ghi nhận của tôi, nhóm Chấn Hưng Phật Giáo, quan năm Trần văn Thưởng, Phạm hoài Việt, Bảo Quốc Kiếm (có nhóm Giao Điểm đứng hậu thuẫn đàng sau) đang ra sức bênh vực cho nhà sư Thích Đôn Hậu nhiều hơn nhà sư Thích Trí Quang vì một số lý do sau :
1/. Nhà sư Thích Đôn Hậu đã qua đời từ lâu nên cho dù bị buộc tội hay bênh vực, ông ta cũng không thể lên tiếng được.
2/. Nhà sư Thích Đôn Hậu sau năm 1975 chống lại sự kềm chế của chính quyền Việt Cộng, nên nhóm bênh vực vin vào đó để cho rằng ông Đôn Hậu cũng chống Cộng trước 1975.
3/. Nhóm bênh vực cho tầng lớp tăng lữ Bình Trị Thiên hoạt động có lợi cho Việt Cộng cũng đều là các đệ tử người Bình Trị Thiên nên không thể biết các hoạt động của nhà sư Thích Trí Quang tại Sài Gòn. Trong khi các hoạt động của nhà sư Thích Đôn Hậu tại Huế và Quảng Trị - Thừa Thiên chỉ là một phần của sách lược hoạt động của nhà sư Thích Trí Quang.
Do đó ngay cả quyển sách BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG của ông Liên Thành cũng không thể kể ra các sự kiện liên quan đến biến động miền Trung, vì ngoài phạm vi hoạt động của ông cũng như vượt quá tầm trách nhiệm và chức năng của ông .
Khi biến cố Phật giáo xuống đường năm 1966, tôi đang học đệ tam trường trung học Chu Văn An – Sài Gòn, nhà ở giữa 2 chùa Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự, nên biết khá rõ về những sự kiện này tại Sài Gòn. Thời điểm đó, Thượng Tọa Thích Tâm Châu trong cương vị Viện Trưởng Viện Hóa Đạo PGVN Thống Nhất tuyên bố không tán thành các nhà sư gốc miền Trung (lúc đó chưa có giáo hội Ấn Quang) xách động quần chúng xuống đường vì tất cả những xáo trộn nói trên chỉ có lợi cho Cộng Sản.
Thượng Tọa Thích Tâm Châu đã bị các nhà sư gốc miền Trung đe dọa và gây áp lực phải từ chức Viện Trưởng Viện Hóa Đạo để họ lên nắm quyền và lũng đoạn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Theo tôi được biết, người đe dọa trực tiếp đến tính mạng của Thượng Tọa Thích Tâm Châu thời bấy giờ là một người tu xuất gốc Huế, tục danh là Bùi Ngọc Đường (hiện sống ở miền Nam Cali, và cũng là một tay trụ cột quan trọng của nhóm Giao Điểm cùng với một nhà tu xuất gốc Huế khác là Trần quang Thuận, cũng như nhóm Về Nguồn + Nhóm Thân Hữu Già Lam…đều là hậu thân của các tăng lữ gốc Bình Trị Thiên ). Thượng Tọa Thích Tâm Châu lánh mặt và không từ chức nên nhóm các nhà sư gốc miền Trung phải tách riêng để thành lập Giáo Hội Ấn Quang ! ( Xin xem Bạch Thư của Hòa Thượng Thích Tâm Châu xuất bản năm 1993)
Trở lại với tiêu đề của bài viết này, chúng ta hãy xem lại các định nghĩa của THỬ, THÁCH và THỬ THÁCH để biết thêm một số diễn trình hoạt động của nhà sư Thích Trí Quang mà ông Liên Thành không đề cập trong quyển sách BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG. Cá nhân tôi nghĩ là ông Liên Thành chưa được biết rõ (và lẽ dĩ nhiên là nhóm bênh vực cho các nhà sư Bình Trị Thiên hoạt động có lợi cho Việt Cộng lại càng không biết ) .
THỬ : động từ, có 3 định nghĩa
1/ Làm như thật, hoặc chỉ dùng một ít hay trong thời gian ngắn, để qua đó xác định tính chất, phẩm cách, đối chiếu với yêu cầu. Thí dụ : thi thử, nếm thử, hỏi thử…
2/ Dùng những biện pháp kỹ thuật, biện pháp tâm lý để phân tích xem xét đặc tính, thực chất của sự vật hoặc con người cần tìm hiểu. Thí dụ : thử vàng, thử máu, thử sức, thử lòng…
3/ Làm một việc nào đó để xem kết quả ra sao, may ra có thể được. Thí dụ : thử nhớ lại, thử hỏi…
THÁCH : động từ, có 2 định nghĩa
1) Nói kích nhằm làm cho người khác dám làm một việc gì đó có tính chất đương đầu hoặc thi tài với mình. Thí dụ : thách đấu gươm, thách đấu súng…
2) Nêu lên để yêu cầu giá, mức cao hơn bình thường.
THỬ THÁCH : danh từ, đặt vào tình trạng khó khăn, nguy hiểm để qua đó thấy rõ tinh thần , khả năng của con người.
Từ năm 1961, khi lên nắm chính quyền tại Hoa Kỳ, chính quyền Kennedy đã bị Hồ chí Minh và Cộng Sản Quốc Tế lừa bịp nên đã có một chính lược sai lầm về chiến cuộc tại Việt Nam. Mao Trạch Đông và Lâm Bưu rất cay đắng về sự tham chiến của Hoa Kỳ tại bán đảo Triều Tiên, vì Bắc Hàn đã dùng chiến tranh quy ước để xâm lăng Nam Hàn, Hoa Kỳ có lý do chính đáng để đem quân can thiệp dưới ngọn cờ của Liên Hiệp Quốc đã đẩy lui quân Bắc Hàn lùi qua sông Áp Lục, sau đó Mao gửi thêm 1 triệu chí nguyện quân Trung Cộng do Thống Chế Bành Đức Hoài chỉ huy, mà cũng không đẩy lui được quân đội Liên Hiệp Quốc do Hoa Kỳ lãnh đạo ra khỏi Hàn Quốc. Mặc dù Hoa Kỳ không sử dụng võ khí nguyên tử, nhưng chiến thuật “nhân hải” (biển người) của Mao Trạch Đông và Lâm Bưu cũng chịu không nổi với hỏa lực quy ước của quân lực Hoa Kỳ.
Do đó, theo chỉ thị của Trung Cộng, Hồ chí Minh và CSBV mới thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa nhưng khoác dưới vỏ bọc “chiến tranh nổi dậy”. Vì tưởng Cộng Sản Bắc Việt không dám xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa (như Bắc Hàn đã xâm lăng Nam Hàn) nên Tổng Thống Kennedy và ban tham mưu chính trị của ông quan niệm rằng phải dân chủ hóa Việt Nam Cộng Hòa như Mỹ thì “chiến tranh nổi dậy” sẽ không còn chỗ đứng. Những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa thời 1961-1962 cũng rất ít người biết tại sao người Mỹ lại khai sinh ra cái gọi là “chiến tranh chống nổi dậy”. Sự mâu thuẫn giữa chính quyền Kennedy và chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng lớn, đưa đến việc Hoa Kỳ muốn thay thế ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu. Lý do gần nhất mà người Mỹ có thể “bứng” anh em ông Diệm – Nhu ra khỏi chính trường là tạo ra khủng hoảng Phật Giáo năm 1963, và cũng vì cách xử lý vụng về của Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên chế độ của ông bị đảo chánh và ngay bản thân 2 ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu cũng bị sát hại.
Nhà sư Thích Trí Quang lại tự đánh giá quá cao về vai trò của Phật giáo (và của cá nhân ông ta) trong vụ chính biến 1963 nên ông ta đã có những quyết định chủ quan sai lầm trong việc tranh thủ quyền lực chính trị của Việt Nam Cộng Hòa giai đoạn sau 01 tháng 11 năm 1963 đến 30 tháng 4 năm 1975.
Nhà sư Thích Trí Quang đã THỬ lật đổ nhiều chính phủ của VNCH thời 1964-1965 khi ông ta cho rằng mưu toan tái sinh Đảng Cần Lao hay hoặc ông ta cho rằng đó là chính phủ của Ngô Đình Diệm mà không có Diệm, Thủ Tướng Trần Văn Hương là người muốn tách bạch chính trị và tôn giáo ra riêng biệt, bị Thích Trí Quang quậy phá (vì các lãnh tụ tôn giáo như Thích Trí Quang không được can thiệp vào sự lựa chọn người trong Nội Các Chính Phủ) phải từ chức
Giai đoạn chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Khánh là giai đoạn mà giáo dân Công Giáo và phật tử xuống đường đánh nhau đổ máu, một phần vì tham vọng cá nhân của Trung Tướng Nguyễn Khánh (ông này lập Hiến Chương Vũng Tàu , và tự tôn xưng mình là Chủ Tịch Việt Nam Cộng Hòa – chắc là để muốn coi mình ngang vai vế với Hồ chí Minh đang là Chủ Tịch của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), phần khác nhà sư Thích Trí Quang coi chính phủ Nguyễn Khánh là chính phủ của Diệm mà không có Diệm (vì xưa kia, tướng Nguyễn Khánh là con nuôi của Tổng Thống Diệm và lại là người Công Giáo !)
Tuy chống đối Thủ Tướng Nguyễn Khánh, nhà sư Thích Trí Quang đã áp lực chính phủ Nguyễn Khánh làm lợi cho ông ta một số việc :
1/ Xử tử được ông Ngô Đình Cẩn – em trai của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, có thời được gọi là lãnh chúa miền Trung. Đồng thời xử tử được ông Phan Quang Đông – một viên chức tình báo điều khiển màng lưới xâm nhập Bắc Việt, nhiệm vụ ông Phan Quang Đông không dính líu ăn nhập gì đến chuyện đàn áp Phật giáo ở Huế, cho nên không những ông Liên Thành kết tội nhà sư Thích Trí Quang hoạt động cho Cộng Sản mà tất cả các giới chức tình báo và phản gián cũng đều có kết luận như vậy. Nên nhớ là vào năm 1964, ông Liên Thành vừa mới ra trường và chưa gia nhập lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia.
2/ Chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Khánh có Tổng Trưởng Nội Vụ là ông Hà Thúc Ký – một người Huế, Đảng Trưởng Đại Việt Cách Mạng Đảng. Ông Hà Thúc Ký vừa bị áp lực của nhà sư Thích Trí Quang vừa bị mua chuộc bằng tiền bạc, nên chính tay ông Hà Thúc Ký đã ký giấy thả Đại Tá Lê Câu và Mười Hướng (về sau lên tới cấp bậc Trung Tướng ) – là 2 tay tình báo của CSBV xâm nhập phá hoại miền Nam. Hai người này bị bắt trước 1963 do cơ sở Mật Vụ Miền Trung của ông Dương Văn Hiếu lãnh đạo.
Khi hay tin 2 lãnh đạo quan trng của Việt Cộng được ông Tổng Trưởng Nội Vụ Hà Thúc Ký ký giấy thả ra, Thủ Tướng Nguyễn Khánh rất tức giận, ông Khánh có ý định đem ông Hà Thúc Ký ra tòa truy tố về tội phản quốc. Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng lúc bấy giờ là Luật Sư Nghiêm Xuân Hồng – một thủ lãnh của Duy Dân Quốc Dân Đảng, mới can ngăn Thủ Tướng Nguyễn Khánh và dàn xếp để ông Hà Thúc Ký nạp đơn xin từ chức.
Ngay sau khi ông Hà Thúc Ký rời chức vụ, ông Nguyễn Hòa Hiệp – Kỳ Bộ Trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng, nguyên Sư Trưởng Đệ Tam Sư Đoàn Quốc Dân Đảng thời kỳ 1945-1946 lên thay thế.
Khi viết ra những sự kiện này, tôi dư biết một số lớn những đảng viên của Đại Việt Cách Mạng Đảng phản đối cho là tôi bịa đặt vu oan cho thần tượng Đại Lão Đồng Chí Đảng Trưởng Hà Thúc Ký, nhưng tôi chỉ nêu ra đây một số chi tiết mà các quý vị đảng viên đảng Đại Việt có thể kiểm chứng : khi ông Hà Thúc Ký làm Tổng Trưởng Nội Vụ, 2 người phụ tá của ông là Luật Sư Phạm Nam Sách và giáo sư Nguyễn văn Canh. Luật Sư Phạm Nam Sách sống ở Chula Vista một thành phố kề cận San Diego, Luật Sư Phạm Nam sách qua đời từ năm 2000 vì bệnh tim. Giáo Sư Nguyễn Văn Canh hiện cư ngụ tại thành phố Palo Alto, giáo sư Nguyễn văn Canh có thể nói hay không nói lý do ông Hà Thúc Ký từ chức Tổng Trưởng Nội Vụ mặc dù ông biết rõ nguyên nhân, chuyện ông không nói cũng dễ hiểu và thông cảm cho ông. Luật Sư Nghiêm Xuân Hồng sống ở Nam Cali và cũng qua đời trước cả Luật Sư Phạm Nam Sách. Nhưng cựu Thủ Tướng Nguyễn Khánh thì vẫn còn sống, nếu tôi nhớ không lầm thì tướng Nguyễn Khánh cư ngụ tại Sacramento.
Ông Hà Thúc Ký thì mới qua đời hồi năm ngoái 2009, đọc tiểu sử thì thấy nói là ông từ chức vì bất đồng quan điểm với Thủ Tướng Nguyễn Khánh, nhưng nếu có đảng viên hậu duệ hay người ngoài Đảng Đại Việt cắc cớ hỏi tại sao bất đồng quan điểm mà lại nhận lời làm Tổng Trưởng Nội Vụ và xin cho biết ông Hà Thúc Ký bất đồng quan điểm với Thủ Tướng Nguyễn Khánh về vấn đề gì ? Có lẽ người viết tiểu sử của ông Hà Thúc Ký sẽ trả lời là họ không biết !!! (ngu hay sao mà nói ).
Quý vị cũng có thể kiểm chứng sự việc ông Hà Thúc Ký thả 2 thủ lãnh tình báo của Việt Cộng qua 2 nhân vật đã từng làm việc trong ngành An Ninh và Phản Gián hiện còn sống, đó là cựu Trung Tá Nguyễn Hữu Hải – nguyên trưởng E Cảnh Sát Đặc Biệt của Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Quân Khu 2 và cựu Trung Tá Nguyễn Mâu – nguyên Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Cựu Trung Tá Nguyễn Hữu Hải hiện sống ở Nam Cali, còn cựu Trung Tá Nguyễn Mâu hiện đang sống tại San Jose.
Đại Tá Phạm Ngọc Thảo là nhân vật chủ chốt tổ chức và điều động các lực lượng quân sự để lật đổ chính phủ Nguyễn Khánh, các nhân vật nổi danh một thời như Trung Tướng Dương Văn Đức, Thiếu Tướng Lâm Văn Phát, Đại Tá Bùi Dinh, Đại Tá Huỳnh Văn Tồn, Đại Tá Nhan Minh Trang, Trung Tá Lê Hoàng Thao…đã tham dự những cuộc binh biến có mỹ danh là “biểu dương lực lượng” vì “thất bại đảo chánh”, nhưng mọi người đều hiểu họ không phải là người chủ chốt. Cho nên họ bị buộc phải rời quân ngũ về “đuổi gà cho vợ “, có người xoay qua đi thầu cho Mỹ, có người thất chí chửi đời, thỉnh thoảng vác cu ra đái bậy trước Dinh Độc Lập như Trung Tướng Dương Văn Đức mà 2 ông Thiệu - Kỳ không nỡ trừng phạt.
Về cái chết của Đại Tá Phạm Ngọc Thảo, một nhân chứng có biết về cái chết này là cựu Phó Tỉnh Trưởng Biên Hòa, ông Nguyễn Văn Nhơn – khóa 6 Đốc Sự Hành Chánh, hiện cư ngụ tại thành phố San Jose cho biết : vào năm 1965, Đại Tá Phạm Ngọc Thảo bị An Ninh Quân Đội bắt tại Hố Nai rồi được giải giao về Tòa Tỉnh Trưởng Biên Hòa, trên mặt chỉ có một vết xước có máu chứ không bị thương tích gì. Tỉnh Trưởng Biên Hòa thời bấy giờ là Đại tá Trần Văn Hai của Nhảy Dù (chứ không phải là Đại tá Trần Văn Hai của Biệt Động Quân, về sau lên làm Tổng Giám Đốc CSQG rồi làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7, tuẫn tiết vào ngày 30-4-75) báo cáo trực tiếp cho Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan – Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội thời bấy giờ. Đại Tá Loan nói sẽ đem trực thăng xuống bốc Đại Tá Thảo về Sài Gòn.. Trong khi chờ đợi trực thăng, Đại Tá Trần Văn Hai đứng trò chuyện tự nhiên với Đại tá Phạm Ngọc Thảo như 2 người bạn lâu ngày gặp nhau chứ không phải như một cai tù chờ chuyển giao một phạm nhân, vì Đại tá Phạm Ngọc Thảo vẫn mặc quân phục và không bị còng tay gì cả.
Chừng 20 phút sau, một chiếc trực thăng H-34 đáp xuống bãi đáp, từ xa một người đi vào, đến gần thì đó là một Trung Úy đến chào 2 vị Đại Tá và mời Đại tá Phạm Ngọc Thảo lên máy bay. Đại Tá Trần Văn Hai đứng tại sân nhìn cho đến khi Đại Tá Phạm Ngọc Thảo bước hẳn vào bên trong và chiếc trực thăng cất cánh, rồi quay lại nói với ông Nguyễn Văn Nhơn :“Thằng Loan nó ngồi trong máy bay vì nó mới nói với tôi đích thân nó sẽ bay lên Biên Hòa, chắc là nó lánh mặt để tránh cho tôi trình trạng khó xử với Đại Tá Phạm Ngọc Thảo”.
Cả 2 người quay vào văn phòng làm việc tiếp tục, chừng 30 phút sau, cả ông Nguyễn Văn Nhơn và Đại Tá Trần Văn Hai đều được nghe loan báo trên đài phát thanh Sài Gòn là Đại Tá Phạm Ngọc Thảo đã qua đời vì mất quá nhiều máu trong lúc bị thương khi bị bắt. Đại Tá Trần Văn Hai nói nhỏ với ông Nguyễn Văn Nhơn trong phòng riêng :“Vậy là thằng Loan thủ tiêu Đại Tá Thảo ngay trên không trung để trừ hậu họa, chớ hồi nẫy trước khi lên máy bay, ông Thảo có bị thương gì đâu ”. Cái chết của Đại Tá Phạm Ngọc Thảo cũng không có y chứng của bác sỹ luật y (Việt Cộng gọi là bác sĩ pháp y) nên không biết Đại Tá Phạm Ngọc Thảo bị bắn bằng loại vũ khí gì và bị bắn vào chỗ nào trên cơ thể. Sau đó, có tin vịt trời được tung ra là Thiếu Tá Hùng Sùi “bóp dái” Phạm Ngọc Thảo đến chết đề tra hỏi tin tức. Đây là loại tin tức khó tin cậy mà không có thực, được tung ra để đánh lạc hướng những nhà báo tò mò.
Cùng lúc với sự xuống đường chống đối chính phủ Nguyễn Khánh, một phòng trào có danh xưng sặc mùi Việt Cộng được các nhân sĩ Phật Giáo thành lập ở Huế, đó là Phong Trào Nhân Dân Cứu Quốc do bác sĩ Lê Khắc Quyến và kỹ sư Tôn Thất Hanh đứng đầu. Sau khi chính phủ Nguyễn Khánh đổ vỡ , chính quyền được trao lại cho các chính khách dân sự trong đó Kỹ Sư Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng, Thủ Tướng là Bác Sĩ Phan Huy Quát – một lãnh tụ của Đại Việt Quan Lại (gốc miền Bắc). Một cơ chế có vai trò tương tự như Quốc Hội có danh xưng là Thượng Hội Đồng Quốc Gia nằm ngang hàng với Quốc Trưởng và Thủ Tướng Chính Phủ, rất nhiều tay chân của nhà sư Trí Quang đã nằm trong Thượng Hội Đồng Quốc Gia này.
Trong chính phủ của Thủ Tướng Phan Huy Quát, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Tổng Trưởng Quốc Phòng và Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia là Trung Tá Phạm Văn Liễu (về sau vinh thăng Đại Tá ). Thời điểm này, quân Cộng Sản Bắc Việt đã xâm nhập vào Nam rất đông, thành lập các sư đoàn chuyên nghiệp và mở các trận đánh vận động chiến chiếm cứ nhiều cứ điểm quan trọng. Dân Sài Gòn biết đến các chiến địa Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả, Ben Hét, Plei Me, Plei Ku, Toumorong, Kontum, Ba Gia, Thạch Trụ, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh…trong thời điểm này vì nơi đây đã xảy ra những trận đánh đẫm máu, số thương vong rất lớn về phía quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhận thấy, cần phải có sự tham chiến trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ để chận đứng đà chiến thắng của Cộng quân, Thủ Tướng Chính Phủ là Bác Sĩ Phan Huy Quát đã ký văn thư thỏa thuận cho quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng vào đầu năm 1965. Việc làm của Bác Sĩ Phan Huy Quát đã bị Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thượng Hội Đồng Quốc Gia phản đối vì họ cho rằng nếu quân đội Hoa Kỳ tham chiến trực tiếp thì chính nghĩa chống Cộng sẽ bị xuyên tạc và chủ quyền quốc gia sẽ bị lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Là người quốc gia đã từng đối đầu với Việt Cộng từ hồi 1949-1950, bác sĩ Phan Huy Quát cho rằng việc cấp bách tức thời là phải ngăn chận sự tiến quân của quân đội Bắc Việt trước đã, rồi nếu có bị lệ thuộc vào Hoa Kỳ cũng còn hơn là bị Cộng Sản khống chế rồi bị tiêu diệt.
Không thuyết phục được Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và những ông trong Thượng Hội Đồng Quốc Gia tay chân của nhà sư Thích Trí Quang, nửa đêm ngày 18 tháng 6 năm 1965, bác sĩ Phan Huy Quát gọi điện thoại nói chuyện trực tiếp với Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu yêu cầu quân đội chọn người ra nắm chính quyền vì một mình ông không thể điều hành được chính phủ trong khi đất nước sắp rơi vào tay quân Cộng Sản. Sau khi nhận được coup điện thoại của bác sĩ Phan Huy Quát, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu liền triệu tập khẩn cấp Hội Đồng Tướng Lãnh họp ngay tại Bộ Tổng Tham Mưu vào lúc rạng sáng ngày 19-6-1965, và ngay sáng ngày 19 tháng 6 năm 1965 , nội các chiến tranh dưới danh xưng Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch, các Tổng Trưởng được gọi là các Ủy Viên, các phó Thủ Tướng được gọi là Tổng Ủy Viên. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu được Hội Đồng Tướng Lãnh bầu vào chức Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia.
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ không tổ chức đảo chánh để nắm binh quyền, cho nên từ ngày 19 tháng 6 năm 1967 trở về sau, chính phủ VNCH chọn ngày 19 tháng 6 hàng năm để Kỷ Niệm NGÀY QUÂN LỰC – là kỷ niệm ngày mà Quân Lực VNCH đứng ra nhận lãnh trách nhiệm điều hành đất nước. Như vậy, những kẻ hiện nay bênh vực cho nhà sư Thích Trí Quang, cứ gọi bọn quân phiệt Thiệu - Kỳ là độc tài, là những kẻ không hề biết lịch sử một cách trung thực như nó đã diễn ra trong thực tế, mà bọn họ chỉ biết lịch sử qua sự tuyên truyền khích động của nhà sư Thích Trí Quang và đồng bọn…
Bác Sĩ Phan Huy Quát khi trao quyền lại cho quân đội, ông không hề bàn thảo với Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu, việc làm của Bác Sĩ Phan Huy Quát làm Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và các ông trong Thượng Hội Đồng Quốc Gia hụt hẫng , vì không còn Thủ Tướng Phan Huy Quát cũng có nghĩa là không còn Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và dĩ nhiên chẳng còn Thượng Hội Đồng Quốc Gia !! Như thế, người phá vỡ âm mưu tranh đoạt quyền lực chính trị của nhà sư Thích Trí Quang là Bác Sĩ Phan Huy Quát chứ không phải là các tướng Thiệu – Kỳ như nhóm Phật Giáo Ấn Quang hay la lối om xòm.
Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Chính Phủ) vẫn duy trì Đại tá Phạm Văn Liễu làm Tổng Giám Đốc CSQG. Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi làm Tư Lệnh Vùng I ( bao gồm 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngãi) nhưng tướng Nguyễn Chánh Thi không muốn quân đội Hoa Kỳ đóng quân ở vùng giới tuyến vì ông sợ chiến cuộc sẽ leo thang đến thành phố Huế, khổ nỗi tướng Nguyễn Chánh Thi lại không có khả năng ngăn chận các đại đơn vị cùng vũ khí nặng của quân Cộng Sản Bắc Việt đang xâm nhập vào vùng phi quân sự (về sau chiến tranh quá ác liệt nên không còn ai gọi vùng này là vùng phi quân sự, nữa mà gọi là VÙNG HỎA TUYẾN ! ) và sau lưng dãy Trường Sơn qua ngả A-Sao, A-Lưới. Đó là lý do ông bị chính quyền Sài Gòn cách chức Tư Lệnh Quân Đoàn I và Tư Lệnh Quân Khu I.
Nhóm các nhà sư Bình Trị Thiên lợi dụng việc này để đòi hỏi duy trì Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi ở chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Tư Lệnh Quân Khu I. Nhà sư Trí Quang đã THÁCH chính quyền Sài Gòn không được cử các tướng khác ra làm Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao, một người Công Giáo từ Sài Gòn ra Đà Nẵng nhậm chức Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I. Từ Đà Nẵng, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao dùng trực thăng bay ra Huế, phi cơ của ông đáp ngay tại sân cột cờ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao bước vào phòng họp của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh để nghe thuyết trình. Thời gian ngắn sau đó, tướng Cao bước ra khỏi Bộ Tư Lệnh và lên phi cơ để bay trở lại Đà Nẵng. Khi phi cơ của tướng Cao vừa lên cao cỡ 5-6 thước thì Thiếu Úy Nguyễn Đại Thức đứng dưới đất rút súng lục bắn vào phi cơ đang bốc lên cao, xạ thủ đại liên của chiếc trực thăng chở Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao bắn hạ Thiếu Úy Nguyễn Đại Thức ngay tại sân cờ của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Tuy Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao không hề hấn gì, nhưng nhà sư Thích Trí Quang đã làm cho tướng Cao quá sợ : khi về đến Đà Nẵng, tướng Cao nhảy vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 24 của quân đội Hoa Kỳ để xin tỵ nạn. Tướng Cao điện vào Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn xin từ chức.
Khi thành phố Huế bắt đầu lộn xộn vì tướng Nguyễn Chánh Thi bị bãi nhiệm, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương Nguyễn Cao Kỳ yêu cầu Đại Tá Phạm Văn Liễu – Tổng Giám Đốc CSQG ra lệnh cho Cảnh Sát Huế - Thừa Thiên vãn hồi trật tự. Đại Tá Phạm Văn Liễu nói ông không thể làm được việc này vì ông là đàn em tướng Nguyển Chánh Thi trong cuộc binh biến ngày 11 tháng 11 năm 1960, rồi cả 2 cùng chạy sang Cambodia.
Đại tá Phạm Văn Liễu xin từ chức và Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương chỉ định Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, thời điểm 1966, đang là Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội, kiêm nhiệm luôn chức vụ Tổng Giám Đốc CSQG, thay thế Đại Tá Phạm Văn Liễu.
Bộ Tổng Tham Mưu cử Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, một người Huế, phật tử, nguyên cựu Tư Lệnh Sư Đoàn I ra thay thế tướng Huỳnh Văn Cao. Tuy nhiên, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân cũng không dám “đụng” tới mấy ông “thầy chùa”, ông cứ đóng tại Đà Nẵng và không dám ra Huế để dẹp loạn trong khi tình ngoài Huế càng ngày càng tồi tệ (Xin xem lại quyển BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG của tác giả Liên Thành ). Rồi tướng Nguyễn Văn Chuân cũng bay vào Sài Gòn xin từ nhiệm. Trung Tướng Tôn Thất Đính tình nguyện xin ra làm Tư Lệnh Quân Đoàn I, tướng Đính hứa với Thiếu Tướng Kỳ là ông lấy uy tín cá nhân để dàn xếp ổn thỏa. Tưởng sao, tướng Đính ra Huế được vài hôm, thì ông theo phe của Trí Quang luôn.
Hội Đồng Tướng Lãnh nhóm họp liên miên, nhưng không một ông tướng nào muốn ra vùng I làm Tư Lệnh cả. Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương rất phân vân không biết phải làm sao. Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan không có họp Hội Đồng Tướng Lãnh vì ông không phải là tướng. Nhưng khi tướng Kỳ kể lại sự việc trong Hội Đồng Tướng Lãnh, Đại Tá Loan chỉ nói với tướng Kỳ một câu ngắn ngủi : “Để tao!”. Và ông Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương ký Sự Vụ Lệnh bổ nhiệm Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan làm Tư Lệnh Dẹp Loạn Miền Trung.
Tôi bỏ qua giai đoạn Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan bình định Đặc Khu Quảng Đà vì công tác chính của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan là bình định tình hình đang hỗn loạn tại thành phố Huế. Trước khi Cảnh Sát và Quân Đội từ Sài Gòn ra Huế dẹp loạn, các thủ lãnh sinh viên đấu tranh lên diễn đàn tại các giảng đường Đại Học đã THÁCH THỨC chính quyền Thiệu – Kỳ sẽ chịu hậu quả nghiêm trọng, nếu đem quân ra Huế, tôi dự đoán là nhà sư Thích Trí Quang đã mớm lời cho họ . Bọn này theo lệnh của Thích Trí Quang đã thành lập những đoàn thể có tên nghe rất “kêu” như là “ Đoàn Phật Tử quyết tử để bảo vệ Đạo pháp “ , “ Chiến Đoàn Nguyễn Đại Thức “…v…v… Tuy nhiên theo như ông Liên Thành mô tả thì khi hay tin Cảnh Sát Dã Chiến đem bàn thờ vào lề đường để có chỗ thông suốt cho Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân “hành quân” thì các lãnh tụ này trốn vào bưng hết cả, Cảnh Sát chỉ bắt được “tép riu” mà thôi.
Mặc dù không bắt được các tay sách động sinh viên hoạt động dưới trướng của nhà sư Thích Trí Quang, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đã bắt được “con cá lớn” Thích Trí Quang. Theo như ông Liên Thành mô tả, Thích Trí Quang tự nhiên vác xác ra tuyệt thực tại Tòa Đại Biểu Chính Phủ nên Đại Tá Loan ra tay bắt giữ Thích Trí Quang ngay lập tức vì Tòa Đại Biểu là cơ sở của chính quyền. Có lẽ do sự chủ quan của nhà sư Thích Trí Quang đánh giá thấp con người của Đại tá Loan, vì các tướng như Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận – Tư Lệnh Sư Đoàn I, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Trung Tướng Tôn Thất Đính…đều “sợ” nhà sư Thích Trí Quang. Nhưng nhà sư Thích Trí Quang chỉ biết ta mà không biết người, đâu có ngờ một người cấp bậc nhỏ mà lại dám “chơi liều” trong khi rất nhiều ông tướng không dám hành động gì cả. Nếu nhà sư Thích Trí Quang cứ ngồi trong chùa Từ Đàm không đi ra ngoài thì muốn bắt nhà sư Thích Trí Quang cũng không phải là chuyện dễ dàng và nhanh chóng đến như vậy .
Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan dùng trực thăng đem nhà sư Thích Trí Quang từ Huế bay vào Đà Nẵng, khi bay qua đèo Hải Vân, Đại Tá Loan chỉ mặt nhà sư Thích Trí Quang mà nói (tôi lập lại nguyên văn) : “ ĐM. mày Trí Quang, mày là thằng Việt Cộng, tao đạp mày xuống biển bây giờ ”. Nhà sư Thích Trí Quang chới với vì không ngờ thằng cha Đại Tá bắc kỳ nói giọng lai Huế này đã “chơi liều” bắt giữ mình mà nay lại dám” chơi bạo và chơi dữ” nữa là thủ tiêu mình bằng cách đạp mình xuống biển, nhưng ánh mắt tràn đầy sát khí của Đại Tá Loan mới làm Thích Trí Quang hoảng sợ chứ ông ta không sợ vì lời nói. Nhà sư Thích Trí Quang quỳ xuống sàn phi cơ lạy Đại Tá Loan lia lịa, cùng lúc đó một số vị Trung Tá và Thiếu Tá trong đoàn tùy tùng của Đại Tá Loan đứng ra can ngăn, Đại tá Loan mới trở về chỗ ngồi. Khi tới Đà Nẵng, nhà sư Thích Trí Quang được chuyển lên một phi cơ vận tải C-47 của KQVN bay vào Sài Gòn để rồi bị nhốt tại Nha An Ninh Quân Đội (góc đường Hồng Thập Tự và Nguyễn Bỉnh Khiêm) chứ không bị nhốt tại Tổng Nha Cảnh Sát đường Võ Tánh.
Chắc chắn sẽ có người hỏi,cỡ tuổi nhỏ như tôi làm sao biết chuyện này ?. Xin trả lời ngay là tôi may mắn được quen biết với Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu, vị dân biểu Quốc Hội Lập Hiến năm 1966-1967, sau này là dân biểu Quốc Hội Lập Pháp đơn vị Long Xuyên – An Giang nhiệm kỳ 1971-1975. Thời điểm 1965- 1966, Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu đang làm Luật Sư Cố Vấn cho ông Trần Quốc Bửu – Chủ Tịch Tổng Công Đoàn Lao Công Việt Nam. Thân phụ Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan là một viên chức hành chánh làm việc trong Tổng Công Đoàn Lao Công Việt Nam, ông đã kể những việc làm của Đại tá Loan cho ông Trần Quốc Bửu và Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu biết. Vào năm 1993, tôi gặp lại cựu Trung Tá Nguyễn Mâu tại San José và đem câu chuyện này hỏi cựu Trung Tá Nguyễn Mâu, cựu Trung Tá Nguyễn Mâu xác minh được 2 việc :
1. Thời điểm biến loạn miền Trung năm 1966, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ còn ngần ngại chưa dám dùng biện pháp mạnh, chính Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan tình nguyện ra miền Trung để dẹp loạn trong khi ông mới chỉ làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát một thời gian ngắn (sau khi Đại tá Phạm Văn Liễu từ chức )
2. Chuyện Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đòi đạp nhà sư Thích Trí Quang xuống biển là chuyện có thật chứ không phải là chuyện đóng kịch để hù dọa. ( nhà sư Thích Trí Quang không phải là con cừu non nên không thể hù dọa được) .
Phát biểu về chuyện tha mạng nhà sư Thích Trí Quang, Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu cho rằng : “Đại tá Nguyễn Ngọc Loan đánh giá nhà sư Thích Trí Quang là một người gây rối nhưng chưa đạt đến mức độ tối nguy hiểm và có thể kiểm soát được. Nếu nhà sư Thích Trí Quang được Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đánh giá là phần tử tối nguy hiểm và không thể kiểm soát được (như Đại tá Phạm Ngọc Thảo chả hạn) thì ông đã trừ khử diệt mối họa như ông đã từng làm với Đại Tá Phạm Ngọc Thảo rồi”. Ông Trần Quốc Bửu cũng đồng tình với nhận định này.
Trường hợp nhà sư Thích Trí Quang bị Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan bắt giữ làm tôi liên tưởng đến Saddam Hussein hồi năm 2003 : trong khi đại sứ của Irak tại Liên Hiệp Quốc khuyến cáo ông Saddam phải nên nhượng bộ những yêu sách của chính phủ Bush để tránh chiến tranh thì Saddam vẫn cứ ngang ngược không chấp nhận những yêu sách của chính phủ Mỹ. Saddam hoàn toàn tin tưởng vào sự phủ quyết của 3 nước Pháp – Nga – Trung Hoa (chỉ cần 1 cũng đủ, huống chi đồng minh của Saddam có tới 3 !!!) , nhưng Saddam không hỏi 3 ông bạn đồng minh có quyền phủ quyết một chuyện rất quan trọng là nếu Hoa Kỳ ngang nhiên tấn công Irak thì 3 nước Nga – Pháp - Trung Hoa có trợ giúp viện binh ngăn cản Hoa Kỳ hay không ? Nếu có hỏi, tôi dự đoán 3 ông bạn đồng minh có quyền phủ quyết chắc chắn sẽ trả lời là không, và Irak phải tự lo liệu lấy vì Hoa Kỳ đâu có xâm lăng nước Nga, nước Pháp, nước Trung Hoa thì làm sao binh lực của 3 nước này tiến đánh Hoa Kỳ được ! Vì không hỏi, nên khi Hoa Kỳ “bypass” không cần họp bàn ở Hội Đồng Bảo An LHQ mà vẫn đem 180,000 binh sĩ tấn công Irak thì ông Saddam đành phải…chịu “chết”. Nhà sư Thích Trí Quang cũng vậy, vì không THỬ đặt mình vào trong trường hợp xấu nhất, nên khi bị rơi vào tình trạng xấu nhất, ông không biết phải hành xử thế nào cho hợp thời hợp cách. Kết quả là ông bị khống chế và vô hiệu hóa các hoạt động chống đối chính phủ VNCH.
Quan năm Trần Văn Thưởng có hỏi ông Liên Thành là tài cán gì mà mới có Trung Úy mà đã làm đến Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên, phải chăng dựa hơi vào Đảng Đại Việt để tranh đoạt và duy trì quyền lực ? Tôi không biết ông Liên Thành có trả lời quan năm Trần văn Thưởng hay không, nhưng tôi đoán là không vì đây là một câu hỏi ngớ ngẩn và ngu xuẩn (imbecile and stupid question) . Ngớ ngẩn và ngu xuẩn vì quan năm Trần văn Thưởng là cái thá gì mà dám đặt câu hỏi như vậy, những người có thẩm quyền và tư cách để đặt câu hỏi như vậy là các vị chỉ huy trưởng cao cấp nhất trong ngành Cảnh Sát như Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, người kế nhiệm là Đại tá Trần Văn Hai, kế tiếp là Thiếu Tướng Trần Thanh Phong, rồi sau đó là Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình thì lại chẳng bao giờ đặt câu hỏi , dễ hiểu là vì nếu ông Liên Thành không có khả năng cầm đầu ngành Cảnh Sát tỉnh Thừa Thiên thì các “xếp lớn “ trong ngành Cảnh Sát cách chức ông Liên Thành ngay chứ cần gì phải lèm bèm đặt câu hỏi vớ vẩn như vậy !!
Trong khi đi học tại Trường Chính Trị Kinh Doanh Dalat, trong môn học có tên là Động Thái Tổ Chức (Behavior Organization) , giáo sư Phó Bá Long có đưa ra một thí nghiệm sinh học như sau : người ta cho 2 con côn trùng là con ong và con ruồi vào một bình thủy tinh trong suốt và to lớn nhưng miệng bình thì nhỏ xíu và dài gấp 5 lần bình thường tính theo tỷ lệ, rồi dốc ngược bình thủy tinh này lại – nghĩa là miệng bình nhỏ xíu và dài thì xuống dưới và đáy bình kín mít thì ở phía trên. Trong cả ngàn lần thí nghiệm thì con ruồi luôn luôn bò ra trước và con ong thì vẫn bay hoài trong bình không làm sao ra được. Giáo sư Phó Bá Long nói : con ong có khả năng “quang hướng động” cho nên nó bay theo hướng mặt trời để đi tìm phấn hoa đem về tổ để tạo “mật”, trong khi nó không biết rằng giữa nó và nguồn sáng bây giờ có một bức vách thủy tinh ngăn trở mà nó không vượt qua được. Con ruồi cũng bay về phía nguồn sáng, nhưng thấy vài lần đụng vách thủy tinh không ra ngoài được, con ruồi bò lần lần ra phía miệng bình chứ không bay nữa, và kết quả là con ruồi luôn luôn ra ngoài bình thủy tinh trước. Giáo sư Phó Bá Long kết luận : con ong vì quá tự tin và cố chấp vào khả năng thiên khiếu của mình nên cứ ở mãi trong bình, còn con ruồi sau vài lần trở ngại nó đã biết THỬ phương cách khác nên đã giải quyết được nhu cầu mà nó cần.
Nhà sư Thích Trí Quang bị thất bại trong biến động miền Trung năm 1966 có lẽ vì 4 lý do sau đây :
1/ Ông xem thường Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, vì so với các ông Tướng khác, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan không có chiến tích gì ghê gớm cả, lại càng không có thành tích chính trị nào đáng kể. Trường hợp này cũng giống như Quan Vân Trường coi thường Lục Tốn là một thằng con nít, cho nên Quan Vân Trường không phòng bị cẩn thận, bị Lục Tốn đánh cho liểng xiểng phải bỏ mạng tại mặt trận Kinh Châu thời Tam Quốc Chí bên Tàu – thế kỷ thứ 3 sau Thiên Chúa Giáng Sinh.
2/ Sự thất bại của các tướng Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Văn Chuân, Tôn Thất Đính…trong việc ổn định tình hình tại miền Trung vào năm 1966 khiến Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan phải THỬ một phương cách khác để giải quyết vấn đề (như trường hợp thí nghiệm sinh học mà tôi vừa nêu ở đoạn trên), và ông đã giải quyết được nhu cầu mà chính quyền Sài Gòn mong muốn.
3/ Nếu ai đã đọc Tam Quốc Chí của La Quán Trung thì đều thích thú khi thấy Khổng Minh Gia Cát Lượng trong tay chỉ có vài trăm quân, lại bị Tư Mã Ý vây hãm trong thành, nhưng Khổng Minh cho mở cửa thành lính chầu 2 bên , ông ngồi giữa cười cười mà Tư Mã Ý không dám đột nhập, sau cùng phải rút quân. Kim Thánh Thán, một nhà bình luận văn học đời nhà Thanh, phê rằng vì Khổng Minh biết rõ Tư Mã Ý là người đa mưu cẩn thận nên mới mở cửa thành; chứ nếu tướng vây thành lúc bấy giờ không phải là Tư Mã Ý mà là Hứa Chử hay Trương Phi thì không xong ( Tư Mã Ý là tướng rất cẩn thận, ông ta sợ Khổng Minh phục binh nên không dám vào, chứ ông ta đâu biết rằng Khổng Minh lúc bấy giờ chỉ có vài trăm quân. Còn Hứa Chử với Trương Phi thì khỏi cần, có biết phục binh tới vạn quân thì 2 ông tướng này cũng không “care” ) . Nhà sư Thích Trí Quang thất bại vì sử dụng kế của Khổng Minh đối phó với Tư Mã Ý đem ra xài lại với Hứa Chử và Trương Phi !!!
4/ Nhà sư Thích Trí Quang đánh giá sai phương cách ứng xử của Tư Lệnh Dẹp Loạn Miền Trung, ông ta nghĩ rằng Cảnh Sát và Quân Đội Sài Gòn (nhất là Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân ) sẽ đạp đổ bàn thờ Phật và nếu điều này xảy ra quần chúng sẽ xuống đường còn hơn hồi 1963 chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm nữa. Nhưng Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đâu có ngu tới mức như vậy. Theo như ông Liên Thành mô tả, Cảnh Sát Dã Chiến, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân chỉ bưng bàn thờ di chuyển vào lề đường để có chỗ cho quân xa, xe cộ di chuyển thôi chứ không hề có bất cứ bàn thờ Phật nào bị đạp đổ hết cả. Kết luận : “ Làm tướng mà đánh giá sai phản ứng của địch quân thì đánh trăm trận phải thua cả trăm trận !!!” (Chú thich của người viết bài : Tôi đảo ngược câu nói của Tôn Tử “Biết mình, biết người, trăm trận đều thắng” chứ thật ra đã làm tướng mà nếu ước lượng sai phản ứng của địch quân thì ngay trong trận đầu đã bị chết hay bị bắt làm tù binh rồi, không có tới trận thứ hai để mà đánh, nói gì đến trận chiến thứ một trăm !!! )
Tháng 6 năm 1978, tôi từ Sài Gòn ra Quảng Trị, mưu tính dùng đường 9 Nam Lào theo bọn con buôn đi Savanakhet để rồi vượt sông Mékong qua Thái Lan. Dự tính không thành vì cả nhóm 6 người bị bắt ngay tại Khe Sanh, bị giải giao về nhà lao Thừa Phủ tại Huế và tháng 8 năm 1978 bị chuyển lên Trại Bình Điền để “lao động cải tạo”. Tháng 2/ 1979, quân Trung Cộng tràn qua 6 tỉnh biên giới phía Bắc để dạy cho Việt Cộng một bài học (theo cách nói của Đặng Tiểu Bình), nhận thấy sắp có một cuộc chôn sống các “tù nhân cải tạo” như hồi Tết Mậu Thân – nếu quân Trung Cộng đang trên đường tiến vào Hà Nội, tôi và một người bạn người miền Nam lại trốn trại nhưng cả 2 đều bị bắt lại và bị nhốt trong nhà kỷ luật trong 2 năm. Tới tháng 5/1979, vì có gây gổ xích mích với công an quản giáo đội mộc, anh Hồ Minh Lữ bị nhốt trong nhà kỷ luật một tuần lễ.
Trước khi bị nhốt trong nhà kỷ luật, tôi và anh Hồ Minh Lữ không hề quen biết nhau, anh Hồ Minh Lữ cho biết anh là cựu huynh trưởng “Gia Đình Phật Tử” tại Huế và cũng là sĩ quan cấp bậc Thiếu Úy trong ngành Cảnh Sát thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên. Anh Lữ kể cho tôi nghe một kỷ niệm cay đắng về nhà sư Thích Trí Quang như sau : “ khoảng đầu năm 1973, tôi có dịp vào Sài Gòn để học tập về Hiệp Định Paris 1973 vừa mới ký kết, tôi ghé chùa Ấn Quang để thăm “ôn” Trí Quang (chú thích của người viết bài này : người Huế gọi người mà họ kính trọng bằng đặc ngữ “ ÔN ” ). Sau khi chào kính và hỏi thăm sức khỏe cũng như tình hình sinh hoạt ngoài Huế, “ôn” Trí Quang có đưa cho tôi một bức thư và bảo tôi đọc, đó là bức thư của Thượng Tọa Thích Tâm Châu gửi cho Thượng Tọa Thích Trí Quang . Ý chính của bức thư này là Thượng Tọa Tâm Châu kêu gọi Thượng Tọa Trí Quang hãy dẹp bỏ những tị hiềm và xích mích trong nội bộ Phật Giáo trước kia, để cùng nhau hợp tác đối phó với Cộng Sản sau khi Hiệp Định Paris được ký kết…. Đọc xong, tôi trả lại bức thư và hỏi “ôn” Trí Quang : “ý kiến của ôn như thế nào ? ”.
Nhìn thẳng vào mắt tôi, “ôn” Trí Quang gằn giọng , nói : “ Thằng Tâm Châu phải đem đầu Thiệu – Kỳ đến đây thì mới nói chuyện hợp tác ”.
Anh Hồ Minh Lữ kể tiếp : “ Nghe đến câu nói của “ôn” Trí Quang như vậy, tôi hỡi ơi, tôi không ngờ là một người tu hành mà lại nói được một câu trần tục đầy tính sân si đến cùng cực như vậy. Ôn Trí Quang, một người thầy mà tôi tôn sùng kính trọng biết bao, trước đây tôi coi như một thần tượng thì nay đã sụp đổ hoàn toàn. Là một phật tử tại Huế, tôi rất có thiên kiến không đúng về Thượng Tọa Thích Tâm Châu như dư luận phật tử tại Huế đã và đang có, chẳng hạn : ông Tâm Châu là tay sai của Thiệu – Kỳ chống phá Giáo Hội Ấn Quang, ông Tâm Châu ăn tiền của Mỹ không đứng về phe Phật Giáo Dân Tộc..v…v.
Nhưng chính mắt tôi đã được đọc thư của Thượng Tọa Tâm Châu chứ không phải nghe người khác nói lại,, tôi nhận ra rằng chính Thượng Tọa Tâm Châu mới là người quốc gia chân chính, còn ông thầy của mình thì chẳng ra gì. Tuy vậy, tôi không nói gì với “ôn” Trí Quang về sự suy nghĩ của tôi, nhưng xin cáo từ để còn phải nghỉ ngơi mai còn đi họp công vụ. Tôi lặng lẽ ra về nhưng lòng tự hứa là không bao giờ gặp lại ôn Trí Quang nữa”.
Sau khi ra khỏi nhà kỷ luật vào tháng 6 năm 1981, anh Hồ Minh Lữ đã được trả về với gia đình trước đó vài tháng nên tôi không gặp lại anh. Mãi đến tháng 6 năm 1984 tôi mới trở lại Sài Gòn và tháng 12 năm 1987 tôi vượt thoát khỏi Việt Nam đến Thái Lan. Tôi cũng không rõ là anh Hồ Minh Lữ có đến Hoa Kỳ theo diện HO hay không, nhưng nghe phong phanh là anh ở vùng Los Angeles.
Thời điểm 1979, tôi tin là anh Hồ Minh Lữ nói đúng vì anh chẳng có lý do gì để đi đặt điều nói xấu về ông thầy của mình . Đến Hoa Kỳ năm 1989, tưởng như chuyện anh Hồ Minh Lữ kể cho tôi nghe rơi vào quên lãng, nhưng đến năm 1993 Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu nói với tôi là Hòa Thượng Thích Tâm Châu có in quyển Bạch Thư trong đó có nhắc đến lá thư mà Hòa Thượng Tâm Châu gửi cho Thượng Tọa Thích Trí Quang. Lúc đó tôi càng tin cậy anh Hồ Minh Lữ nhiều hơn nữa bởi vì từ thời điểm 1973 cho đến 1979, hầu như không ai biết Thượng Tọa Tâm Châu có viết thư gửi Thượng Tọa Trí Quang. Dĩ nhiên Thượng Tọa Thích Tâm Châu không thể biết nhà sư Thích Trí Quang đã đáp ứng lá thư của mình như thế nào.
Người khôn ngoan là người biết học kinh nghiệm của người khác, kể cả kinh nghiệm thành công lẫn kinh nghiệm thất bại. Động từ “học” mà tôi dùng ở đây, theo Anh – Mỹ là động từ “learn” chứ không phải là động từ “study” (nói theo kiểu người Việt của mình thì cần phải “học” và “rút tỉa được kinh nghiệm” chứ không phải “học” để khoe bằng cấp Ph.D., để khoe tên các Đại Học danh tiếng như những khoa bảng VN vẫn thường hay làm).
Muốn “rút tỉa được kinh nghiệm” thì phải luôn luôn biết THỬ, biết THÁCH THỨC, biết THÁCH ĐỐ và phải vượt qua được những THỬ THÁCH do chính ta và những người ngoại cuộc đặt ra ; nếu chỉ biết THỬ, chỉ biết THÁCH mà lại không vượt qua nổi THỬ THÁCH thì chắc chắn sẽ thất bại (như nhà sư Thích Trí Quang đã thất bại )
Xin cảm ơn tất cả quý vị đã quan tâm và tôn thì giờ quý báu để đọc đến hết đoản văn này.
San Jose ngày 4 tháng 6 năm 2010
Trần Trung Chính

Tuesday, December 28, 2010

Cuộc di cư vĩ đại chạy trốnCộng Sản 1954-1955





Trong những năm đầu tiên của chế độ, khi toàn dân cùng với chính quyền bắt tay vào việc xây dựng đất nước, thì đã gặt hái được những thành quả ngoạn mục như sau: 
Trước hết là việc chuyên chở và định cư cho hơn 900.000 người di cư, trong đó có gần 700.000 người Công giáo. Việc chuyên chở người di cư từ Bắc vào Nam được kế hoạch và sử dụng phương tiện chuyên chở của Pháp và Mỹ. Còn việc định cư thì hoàn toàn chỉ do tiền viện trợ của Mỹ đài thọ. Công cuộc định cư sở dĩ hoàn thành mau chóng và tốt đẹp là một phần nhờ ông Diệm đã chọn được, những vùng đất phì nhiêu rộng lớn cho dân di cư. Ví dụ như ông Diệm đã:
- Lấy đất Cái Sắn màu mỡ cấp phát cho 45.000 nông dân.
- Lấy bờ biển Bình Tuy và đảo Phú Quốc, nổi tiếng nhiều hải sản cho dân chài  lưới.  
- Lấy Long Khánh, Định Quán, Gia Kiệm, Hố Nai cho dân khai thác lâm sản và làm đồ mộc. 
- Lấy Ban Mê Thuột và Cao Nguyên đất đỏ phì nhiêu cho dân trồng trọt hoa mầu xuất cảng.  
- Lấy vùng Ngã Ba Ông Tạ, Tân Bình, Gò Vấp chung quanh Sài Gòn cho dân thương mãi và kỹ nghệ …

        Nhờ tiền bạc dồi dào của Mỹ, nhờ chính quyền dành cho mọi sự dễ dàng, nhờ Tổng Thống Diệm chú tâm nâng đỡ, chẳng bao lâu người dân di cư miền Bắc đã hội nhập dễ dàng vào cuộc sống của dân miền Nam, mà trước đó họ coi là vùng đất xa lạ.

Và cũng chẳng bao lâu, đời sống dân di cư đã đi từ ổn định, đến trù phú còn hơn cả dân địa phương. Công cuộc định cư mau chóng và tốt đẹp cho hơn 900.000 người di cư, đã làm cho các quốc gia trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ phải khâm phục. Một bác sĩ trẻ của Hải Quân Mỹ, ông Tom Dooley, một nhân vật rất mộ đạo Thiên Chúa, từng tham gia vào việc chuyên chở người Bắc di cư vào Nam, Ông nhận thấy tinh thần chống Cộng cao độ của người Thiên Chúa giáo Việt Nam, nên ông đã tình nguyện ở lại miền Nam để thực hiện nhiều công cuộc nhân đạo, viết sách ca ngợi công trình di cư và định cư, làm cho nhân dân Mỹ càng thêm kính phục Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Đây là một thành công lớn về mặt xã hội của chính quyền VNCH.
Trong những năm 1955–5196. Ngoài công cuộc định cư cho dân miền Bắc, nhiều cải cách xã hội, cũng như những biến cố chính trị tốt đẹp khác, càng làm tăng thêm uy tín của ông Diệm:
- Ngày 4 tháng 4 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Ưng Bảo Toàn, Tổng Giám Đốc thương mãi ở Bộ Kinh tế vì tội bán gạo chợ đen cho VC.
- Ngày 28 tháng 4 năm 1956, quân đội viễn chinh Pháp xuống tàu về nước.
- Ngày 13 tháng 7 năm 1956, xử tử tướng Ba Cụt, một vị lãnh tụ nghĩa quân Hòa Hảo, chấm dứt tình trạng mất ổn định tại miền Tây Nam phần.
- Ngày 21 tháng 8 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Vũ Đình Đa và đồng bọn về tội biển thủ mấy triệu bạc của Ngân Hàng Quốc Gia.
- Ngày 26 tháng 10 năm 1956, ông Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa.

Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp Định Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Pháp, tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được tập trung ở miền Bắc, và hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Liên Hiệp Pháp được tập trung ở miền Nam, chờ ngày tổng tuyển cử tự do, dự kiến sẽ xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1956. Điều 14 phần (d) của Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia, và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến (Điều 2), tức chấm dứt vào ngày 19 tháng 5 năm 1955.

Để giám sát thực thi hiệp định, Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến được thành lập theo điều 34 của Hiệp Định với đại diện của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, và Canada.

Theo tuần báo Time, những người di cư vào miền Nam, đặc biệt những người Công giáo Việt Nam, cho rằng họ đã bị đàn áp tôn giáo dưới chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Cộng Sản). Nhiều người lại vì lý do chính trị : họ là những người làm việc cho Pháp, hay giới tư sản, tiểu tư sản không có cảm tình với Chính Phủ Cộng sản. Một số người là nạn nhân của cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, bị lấy mất tài sản nên phải bỏ ra đi. Vào lúc này, các Linh Mục miền Bắc cũng đã giục giã các con chiên di cư vào Nam.

Bên phe Cộng Sản luôn tìm cách phá hoại cuộc di cư của đồng bào. Những tờ bích chương và bươm bướm do Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến in và trao cho hai bên phổ biến cho dân chúng, biết về quyền tự do di tản thì không được chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Cộng Sản) phân phát.  Hơn nữa chính Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra đơn khiếu nại của Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà về hành động "cưỡng bách di cư".  Trong số 25.000 người Uỷ Hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị "cưỡng bách di cư" hay muốn trở về Bắc cả, như lời tố cáo láo của phe Cộng Sản.

Ngoài những người di cư vào Nam vì lý do tôn giáo (chiếm 2/3 tổng số), số còn lại là những người thuộc khuynh hướng chính trị chống Cộng Sản. Những người có liên hệ với chính quyền Pháp hay Chính Phủ Quốc Gia. Thành phần tư sản thành thị và những gia đình nông thôn lo ngại vì chính sách cải cách ruộng đất. Thêm vào đó là những người thuộc dân tộc thiểu số, đã từng theo quân đội Pháp chống Việt Minh. Trong đó có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên.


Tiến trình

Hàng loạt tàu há mồm (landing ship) đã đón người di cư rời miền Bắc. Ngày 9 tháng 8 năm 1954. Chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, lập Phủ Tổng Uỷ Di Cư Tỵ Nạn, ở cấp một Bộ trong Nội Các với ba Nha đại diện: một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam để xúc tiến định cư.

Thêm vào đó là Uỷ Ban Hỗ Trợ Định Cư, một tổ chức cứu trợ tư nhân giúp sức. Vì không có đủ phương tiện cho những người di cư vào Nam, nên chính quyền Pháp và Bảo Đại phải kêu gọi các nước khác giúp chuyên chở và định cư.  Các Chính Phủ Anh, Ba Lan, Tây Đức, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Nhật, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Trung Hoa Dân quốc, Úc và Ý hưởng ứng cùng các tổ chức Unicef, Hồng Thập Tự, Catholic Relief Services (CRS), Church World Services (CWS), Mennonite Central Committee (MCC), International Rescue Committee (IRC), Care và Thanh Thương Hội Quốc tế.

Ngày 4 tháng 8 năm 1954, cầu hàng không được nối phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn trong Nam với các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai, Hà Nội và Cát Bi, Hải Phòng ngoài Bắc được thiết lập.  Nỗ lực đó được coi là cầu không vận dài nhất thế giới lúc bấy giờ (khoảng 1200 km đường chim bay). Phi cảng Tân Sơn Nhứt trở nên đông nghẹt; tính trung bình mỗi 6 phút một là một máy bay hạ cánh và mỗi ngày có từ 2000 đến 4200 người di cư tới. Tổng kết là 4280 lượt hạ cánh, đưa vào 213.635 người.

            Ngoài ra, một hình ảnh quen thuộc với người dân tỵ nạn là "tàu há mồm" (landing ship), đón người ở gần bờ rồi chuyển ra tàu lớn neo ngoài hải phận miền Bắc. Các tàu thủy vừa hạ xuống, hàng trăm người đã giành lên. Các tàu của Việt Nam, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa, Ba Lan... giúp được 655.037 người "vô Nam". "Nam" được hiểu là cả dải duyên hải miền Nam Việt Nam, từ Đà Nẵng tới Vũng Tàu. Vì số người di cư quá đông, Cao Uỷ Pháp đã xin gia hạn thêm ba tháng và phía Hà Nội đã thoả thuận, nên ngày cuối cùng thay vì là ngày 19 tháng 5 được đổi thành ngày 19 tháng 8. Trong thời gian gia hạn, thêm 3.945 người đã vượt tuyến vào Nam.  Chuyến tàu thuỷ cuối cùng của cuộc di cư cập bến Sài Gòn vào ngày 16 tháng 8 năm 1955.

Thêm vào đó, còn tới 102.861 người tự tìm đường bộ hoặc ghe thuyền và phương tiện riêng. Tính đến giữa năm 1954 và 1956, khoảng trên 900.000 – 1.000.000 người đã di cư từ Bắc vào Nam, trong đó có khoảng 700.000 người Công Giáo, tức khoảng 2/3 số người Công Giáo ở miền Bắc đã bỏ vào Nam.

         Tất cả những thành công trong hai năm đầu của chế độ được xem như là kết quả của những nỗ lực, của một chính quyền tuy còn yếu kém về mặt quản trị, nhưng lại được một sự quyết tâm cộng tác của toàn dân. Tuy nhiên những nỗ lực này, tự nó và nếu chỉ riêng nó, cũng chưa đủ để hoàn thành việc củng cố miền Nam, nếu không có sự yểm trợ tối đa và vô điều kiện của Hoa Kỳ.  Mà đặc biệt là của ba người Mỹ đã từng liên hệ chặt chẽ với ông Diệm từ trước. Đó là Hồng Y Spellman, Giáo Sư Buttinger và một nhân vật cao cấp CIA, ba nhân vật (từ đầu) đã hoán cải được quan niệm của Tổng Thống Eisenhower, vốn đã muốn bỏ rơi Việt Nam.

Trong ba nhân vật đó thì Đại tá Lansdale đóng vai trò cố vấn trực tiếp bên cạnh Tổng thống Diệm. Ông ta nổi tiếng đến độ không một nhà viết sử nào, khi nói đến sự nghiệp của ông Diệm mà không nhắc đến thân thế và hoạt động của ông ta. Đại tá Lansdale đến Đông Dương từ năm 1954, làm cố vấn phản du kích cho quân đội viễn chinh Pháp.

Hình Ảnh Di Cư Năm 1954: Từ Bắc vào Nam YouTube:

 

http://www.youtube.com/watch?gl=GB&v=7uR9Nim9wzA


VN: Cuộc Di Cư Lịch Sử 1954

 

Saturday, December 25, 2010

Nhân tâm của hai ông Lê Minh Đảo và Tú Gàn (Nguyễn Cần)




----- Original Message -----
Sent: Friday, December 24, 2010 3:46 PM
Subject: [diendanviahe] Cựu Đại tá Hà Mai Việt chỉ là người giúp đỡ sửa bản thảo cho cuốn sách của Tướng Hoàng Lạc

Lê minh Đảo và Lữ Giang Nguyễn Cần họ là những nguời bất nhân chứ không phải bất lương !  Theo truyền thống và đạo lý Việt Nam ta rất coi trọng về việc thờ phượng (cúng giỗ và mồ mả) của người thân của mình đã chết. 

Nếu LMĐ và Lữ Giang Nguyễn Cần có lương tri (thứ này qúy hiếm lắm, thứ người như Đảo như Gàn làm gì mà có được), thì họ nên tiết lộ hoặc báo tin cho người thân của Đại tá Lê Quang Tung/Lê Quang Triệu sau cái ngày hai anh em người ta đã bị giết thảm thương ấy, để thân nhân gia đình của anh em Đại tá LQT/LQT biết chỗ đến mà lấy xác họ về lo mà chôn cất tử tế và lo lễ (giỗ) cho người ta đàng hoàng.   Việc làm này rất dễ, ông LMĐ hoặc Tú Gàn nếu không muốn mọi người biết mình làm việc này thì sao họ không gởi thơ (với nặc danh) hoặc nhờ người nào đó đến nhà người thân của anh em Đại tá LQT/LQT, báo tin cho người ta biết vậy.  

Sau 47 năm trôi qua,  nếu không có bà LT khui ra và vạch mặt Lê Minh Đảo trên làng nách, thì chắc chắn hai ông... bất nhân LMĐ và Tú Gàn Nguyễn Cần kia sẽ mãi mãi căm miệng hến,  không bao giờ mở miệng ..cóc của mình ra mà báo tin xác chết của hai anh em Đại tá LQT/LQT hiện nay chôn ở đâu đâu..

Hai tên Đảo và Càn này qúa ư là bất nhân qúa phải không qúy vị ?

http://mail.yimg.com/us.yimg.com/i/mesg/tsmileys2/35.gif



--- On > wrote:

From: Vu Duc Toan vuductoan612@gmail.com
Kính chào quý vị,

Mới đây, tôi đã có ý định sẽ trích lại những trang trong cuốn "Nam Việt Nam 1954-1975 Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới". Nhưng, sau đó, tôi lại được một vị cao niên đã cho tôi biết rằng, cựu Đại tá Hà Mai Việt chỉ là người giúp đỡ về việc sửa bản thảo cho cuốn sách này, vì như nhiều người đã biết cựu Đại tá Hà Mai Việt là người cầm bút nhiều năm. Còn những điều đã viết trong cuốn sách là do Tướng Hoàng Lạc đã tìm hiểu qua rất nhiều nhân chứng, mà Tướng Hoàng Lạc đã tin tưởng, như Tướng Nguyễn Văn Là, người đã cùng có mặt tại phòng họp tại Bộ Tổng tham mưu với Cố Đại Tá Lê Quang Tung, vào ngày 1-11-1963; cộng thêm với sự hiểu biết trong suốt thời gian đã nắm giữ những chức vụ quan trọng, nên mới viết thành sách.

Nhưng có một điều đáng nói, là đối với những người cầm bút, thì một khi đặt bút viết lên những sự kiện lịch sử, thì sau đó, dù là bao nhiêu năm nữa cũng đừng bao giờ vì một lẽ gì mà phải cam tâm phủi bỏ trách nhiệm về những gì mình đã viết. Đặc biệt, là những người đã từng sống tại miền Nam tự do, tất cả đều không bị phải "viết theo đơn đặt hàng" như những người đã bị kẹt lại ở miền Bắc sau 1954.

Thực tình mà nói, dù có hơi buồn, là sau Sử gia Trần Trọng Kim, mặc dù đã có rất nhiều người đã viết về những sự kiện lịch sử, nhưng những người này họ đã đứng trong những đảng phái chính trị, hoặc  những tổ chức nào đó, họ không phải là người độc lập cầm bút, nên cách Viết của họ vẫn còn phải Lách. Ngay cả những người đã biết rất rõ về những hành vi làm giặc của một số người, nhưng họ không đủ can đảm để viết lên những sự thật ấy.

Người Việt chúng ta vốn quý sách, nhưng ít ai tin vào những cuốn "sách" của những người đã từng nhúng tay vào tội ác, của những kẻ từng cầm súng của Tây để bắn giết những đồng bào của mình, như những tên lính Khố Xanh, Khố Đỏ như Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Nguyễn Chánh Thi ...

Vậy, như đã trình bày ở trên, tôi sẽ không trích thêm những đoạn trong cuốn sách "Nam Việt Nam 1954-1975 Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới". Vì cái điều mà nhiều người mong đợi ở Tướng Hoàng Lạc là lên tiếng về cái chết của cố Đại tá Lê Quang Tung, nhưng nay,  qua cựu Đ/t Hà Mai Việt, thì Tướng Hoàng Lạc đã cho biết thêm một nhân chứng quan trọng và khả tín là tướng Nguyễn Văn Là, người đã cùng có mặt với cố Đại tá Lê Quang Tung tại phòng họp tại Bộ Tổng Tham Mưu vào ngày 1-11-1963. Và Tướng Nguyễn Văn Là đã thuật lại cho Tướng Hoàng Lạc nghe, để viết vào sách. Đó là những điều khả tín nhất.

Ngoài ra, còn có ông Lữ Giang, tức Tú Gàn, đã viết là đã được Tướng Lê Minh Đảo cho biết về nơi chôn xác của cố Đại tá Lê Quang Tung và cố Thiếu tá Lê Quang Triệu, nhưng cả hai ông Lê Minh Đảo và Lữ Giang tứcTú Gàn đêu cùng tàn ác như nhau, vì cả hai đã biết nơi chôn xác hai vị sĩ quan này; như thế mà từ ngày 1-11-1963, cả hai lại không thông báo cho vợ con và gia đình của cố Đại tá Lê Quang Tung và cố Thiếu tá Lê Quang Triệu biết, để họ đi tìm mà cải táng cho hai vị sĩ quan này ??? Mà cho đến giờ này hai ông Lê Minh Đảo và Lữ Giang mới nói ra. Hai ông Đảo -Giang có phải là con người hay ... sắt đá ??? Hai ông có thấu được những nỗi đau đớn của vợ con và gia đình của hai vị Sĩ quan này hay không ???

Còn cái ông Bùi Như Hùng vớ vẩn này nữa, ông này còn vẽ ra cái bản đồ của nơi chôn xác của cố Đại tá Lê Quang Tung và cố Thiếu tá Lê Quang Triệu, để làm gì, vì nơi đó hiện nay có còn gì để mà tìm nữa chứ???

"Biết mà không nói là Bất Lương". Vì vậy, cả hai ông Lê Minh Đảo và Lữ Giang, tức Nguyễn Cần, tức Tú Gàn, đều đã biết nơi chôn xác của hai anh em của cố Đại tá Lê Quang Tung và Thiếu tá Lê Quang Triệu, mà kể từ ngày 1-11-1963, cả hai vẫn câm miệng Hến, cho đến bây giờ mới nói ra. Thật còn biết nói lời nào cho "xứng" hơn là hai chữ Bất Lương. Bất Lương hay Bất Nhân ???

Tôi nghĩ hãy để cho người đời, cho hậu thế, cho lịch sử sẽ phán xét hai ông Lê Minh Đảo và Lữ Giang dù sau này cả hai ông đều đã chết.

Xin cám ơn quý vị đã bỏ thời giờ, để đọc hết ý kiến thô thiển này của tôi.

Trân trọng,

Vũ Đức Toàn
 

Saturday, December 18, 2010

Sự Trả Thù Đê Hèn Và Dã Man Cái chết của Cố Thiếu Tá BĐQ TRẦN ĐÌNH TỰ Mũ Nâu Thiên Lôi kể lại
trandinhtu8.jpg
 


Trong quân sử của cuộc chiến Quốc Cộng kéo dài từ 1954-1975, có khá nhiều những chiến công hiển hách của những đơn vị QLVNCH hay của từng cá nhân, người lính VNCH từ cấp Chỉ huy đến hàng binh sĩ. Hai mươi mốt năm, cuộc chiến đấu của người Miền Nam chống trả và ngăn chặn từng đợt xâm lăng từ miền Bắc Việt Nam, người anh em cùng chung huyết thống, cùng mang dòng máu Lạc Hồng, nhưng đã đánh mất tình người. – U mê với chủ thuyết không tưởng Cộng Sản, bằng vỏ khoác “thế giới Đại Đồng”, thực ra là sự tàn bạo, dã man và đê tiện mới chính là điều căn bản của bọn người man rợ đó. Và, đau đớn biết bao , từ thế hệ này đến thế hệ khác thanh niên Miền Nam cùng nhau gia nhập quân ngũ, dắt dìu nhau đi vào nơi lửa đạn, để truy diệt kẻ xâm lược.

Từng gia đình từng cá nhân mặc nhiên chấp nhận mọi thua thiệt, mọi thương đau để đem sức mình đóng góp vào cuộc chiến ngăn chặn ấy. Những mong có một ngày những kẻ gieo rắc tai ương cho dân tộc sẽ nhận ra sự phi lý, nhận ra thân phận mình đang dùng súng đạn để tương tàn, nhận chìm tổ quốc, dân tộc vào vũng lầy của máu, của thịt da chính mình và lúc đó họ cũng sẽ nhận ra được chính cuộc chiến tranh đã hủy hoại tàn nhẫn quê hương, chung quy cũng chỉ là ước muốn áp đặt một chủ nghĩa chính trị không giống ai và chính cuộc chiến chỉ là phục vụ cho thế lực và mưu đồ của ngoại nhân. Và, lúc đó họ sẽ từ bỏ giấc mộng điên cuồng, hoặc cả hai bên cùng gác súng, trở về với chính mình, cùng chung lo gây dựng lại những đổ nát, hoang tàn, chữa trị những vết thương đang hoá dòi trên thân thể Mẹ Già Việt Nam.

Thật phủ phàng và cay đắng, tất cả đã trở thành ác mộng, đã thắt cổ chết treo cho mọi mơ ước, mọi cầu mong của dân Việt. Cuộc chiến cũng chấm dứt. Tiếng súng đã thôi không còn vang vọng bên tai mọi người, nhưng chính ngay sau lúc tiếng súng vừa im lặng trên lãnh thổ, thì cũng là lúc bạo tàn, tủi nhục và nước mắt được đong đầy, ngập khắp lãnh thổ Miền Nam, đâu đâu cũng chỉ còn là tiếng than tiếng khóc, nỗi thống khổ nặng như đá tảng đè trên thân xác mỗi người , lù lù trong mỗi gia đình như một tiền oan nghiệp chướng. Những người lính VNCH phải buông súng trong tức tưởi, nghẹn uất, có người còn ngơ ngác tự hỏi : Lẽ nào ta lại quy hàng? Trong tất cả những bài học quân sự, tất cả mọi binh thư, binh thuyết và những huấn lệnh của thượng cấp, người lính chưa hề được nghe một lời nào nhắc đến sự quy hàng – Thế mà bây giờ họ laị được lệnh gác súng – người lính không ngẩn ngơ, đau uất sao được. - Tôi muốn dùng chữ LÍNH ở đây để chỉ chung cho QLVNCH, không dành cho riêng một thứ cấp nào của quân đội chúng ta.

Trong sự ngỡ ngàng, sự uất nghẹn ấy, đã có rất nhiều quân nhân VNCH tuẫn tiết, chẳng riêng năm vị tướng, thậm chí cả những người lính cũng chọn cái chết để tạ lỗi với quê hương, với dân tộc vì họ cảm nhận mình đã không tròn trách nhiệm, không tròn bổn phận của người bảo vệ tự do và độc lập, như trường hợp của một Hạ Sĩ Biệt Động Quân nhất định không cởi bỏ binh phục, đã cho nổ trái lựu đạn, để thân xác mình tan nát, trước sự bàng hoàng, kinh hãi và kính phục của hai người đồng đội và dân chúng trước cửa tiệm phở gà đường Trương Tấn Bửu; hay câu chuyện đầy nước mắt và bi hùng của năm người lính Nhảy Dù, sau khi nhận được lệnh buông súng, họ đã bàn với nhau, uống những giọt cà-phê cuối đựng trong bi-đông, hút điếu thuốc Quân Tiếp Vụ chót, ai nấy xé bao thuốc lấy cái hình người lính trong tư thế tác chiến, dưới bóng quốc kỳ, bỏ vào túi áo ngực mình.

Sau chót, họ – năm người chiến binh Mũ Đỏ - dõng dạc nói với những người dân cư ngụ chung quanh khu Hồ Tắm Cộng Hoà, ngã ba Ông Tạ: “Xin vĩnh biệt bà con, chúc tất cả bà con ở lại mạnh khoẻ và may mắn – xin bà con dang xa chúng thôi để tránh sự nguy hiểm”. Mọi người còn đang ngơ ngác, cứ tưởng anh em Mũ Đỏ nói họ tránh ra để không bị nguy hiểm do đạn giao tranh. Chẳng dè, năm người lính Dù đã ngồi xuống thành vòng tròn, lấy từ ba lô ra lá Quốc Kỳ VNCH, trải trên mặt đất. Cả năm người cùng dang rộng vòng tay, rút chốt trái lựu đạn, bỏ trên mặt lá cờ và cùng nhau gục xuống để cho tiếng nổ đanh gọn, kết thúc cuộc sống của họ – Thịt da tan nát cùng lá cờ. Nơi họ tự ải chỉ cách nhà mẹ tôi khoảng chừng 150 mét. Người dân đã khóc thưong họ, nhưng chỉ dám khóc thầm, lúc nầy kẻ thù đã ngự trị toàn Miền Nam.

Đồng một lúc với sự đầu hàng ép buộc sự buông súng không thuận ý, cũng là lúc kẻ thù – Cộng quân – bắt đầu sự trả thù, khởi sự báo oán trên sinh mệnh người lính VNCH và trên sự an toàn, hạnh phúc của dân chúng Miền Nam. Tội ác của Cộng Sản Việt Nam sổ sách nào ghi cho đủ, kể lại bao lâu cho hết; cũng như gương bất khuất của người lính, nhắc lại cho nhau nghe, giương danh tên tuổi họ cho mai hậu, tưởng chẳng bao giờ thừa dư, mà chúng ta cần phải nêu lại để tự nhắc với lòng mình niềm oán hận, nỗi thù còn hằn còn nguyên một khối kết đặc trong hồn chúng ta, khó lòng xoá nhoà, gột bỏ vì kẻ thù ta còn đấy, vẫn đang hàng ngày phủ chụp bàn tay vô luân của chúng trên quê hương, trên từng ly vuông da thịt người dân. Gưong anh dũng hy sinh, thà chết nhất định không hàng giặc trong những ngày cuối cùng của Miền Nam tự do, diễn ra khắp nơi, trên bốn vùng chiến thuật và trong tất cả mọi quân binh chủng chủ lực quân, lực lượng bán quân sự, thậm chí ngay cả anh Nhân Dân Tự Vệ sinh sống ở Cống Bà Xếp (Hoà Hưng) đã treo cổ chết nơi sau nhà để khỏi bị giặc hành hạ.

Ở đây trong bài viết này, tôi chỉ xin được đơn cử một gương can đảm bất khuất của một quân nhân BĐQ, đồng thời cũng chính anh hứng chịu sự trả thù, và, ngay cả gia đình anh – cha mẹ, vợ con anh cũng không thoát, đã bị hành hạ tinh thần liên tục và đê tiện. Sự trả thù đáng được đem ra gọi là điển hình theo quan niệm của giặc Cộng . Anh là Thiếu Tá Trần Đình Tự, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 38 – Liên Đoàn 32 BĐQ (Liên Đoàn 5 BĐQ trước kia). Trước khi kể lại sự hy sinh của chiến hữu BĐQ TRẦN ĐÌNH TỰ, xin cho phép tôi được ngưọc về dĩ vãng để viết vài điều tôi được biết về anh theo lời thuật của thân mẫu anh.

Trần Đình Tự, sinh năm 1943 ở Hà Nội, thuở nhỏ học Tiểu học Ngô Sĩ Liên (phố Hàm Long), nhà lại ở khá xa, mãi tận phố hàng Than, nhưng anh rất chịu khó lẽo đẽo đi bộ đến trường không cần ai phải đưa đón. Thân phụ Tự là công chức, làm việc trong Toà Thị Chính thành phố. Thân mẫu là giáo viên, bà dạy tại trường Tiểu học ngoại ô Hà Nội, và có lẽ cuộc đời, sinh hoạt hàng ngày của Trần Đình Tự là do sự giáo dục, ảnh hưởng sâu đậm của mẹ mình. Trầm lặng và ngăn nắp là bản tính của Tự. 1954 được 11 tuổi, Tự được cha mẹ đem vào Miền Nam theo cuộc di cư vĩ đại. Tại Sàigòn, tự học Trung học nơi ngôi trường có truyền thống giáo dục tốt đẹp và kỹ lưỡng vì trước đó trường thuộc hệ thống quản trị và chương trình dạy dỗ do Giáo Hội Công Giáo Việt Nam: Trường Hồ Ngọc Cẩn.

Cũng theo thân mẫu anh nói lại, ngay từ lúc mới biết làm toán, Tự đã tỏ ra khá giỏi và mỗi năm mỗi lớp, ở môn toán, Tự là số 1 không ai tranh được. Các môn học khác, Tự rất dốt, đủ đỉểm trung bình là may. Cả ngày chỉ cặm cụi làm toán, ngoài ra các môn khác học để đủ điểm mà thôi. Sau khi tốt nghiệp bậc Trung học, đậu bằng Tú Tài toàn phần ban toán, lẽ ra Tự sẽ tiếp tục ở Đại học nào đó do anh chọn và vì những lý do chưa đến tuổi nhập ngũ, trong gia đình đã có hai người anh đang phục vụ trong những cơ quan trực thuộc quy chế quân đội, dù có đến tuổi, Tự vẫn còn được huởng trường hợp hoãn dịch để trau dồi học vấn. Thế nhưng, Trần Đình Tự đã làm đơn, đem đến Bộ Quốc Phòng để nộp xin tình nguyện được gia nhập quân đội. Anh xin đi học khoá 14 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức. Điều này đã tạo ra không khí trầm uất, phiền lòng trong gia đình Tự, thời gian hai ba tháng. Cha mẹ Tự mong mỏi ít ra Tự cũng phải đến Đại học vài năm, sau đó sẽ tính nhưng Trần Đình Tự đã làm ngược lại.

Mãn khoá, Trần Đình Tự được bổ sung tài nguyên sĩ quan cho Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng ở miền Tây Nam phần. Sau sáu tháng Tự lại một lần nữa ít nhiều gây ưu phiền cho gia đình. Anh làm đơn xin tình nguyện được phục vụ trong binh chủng BĐQ. Anh được toại nguyện. Ngày tôi về trình diện TĐ 33 BĐQ ở Biên Hoà, Tự đã có mặt tại đơn vị này từ bao giờ, vì tôi nhập ngũ sau Tự ba khoá. Tôi học khoá 17 STQB/TĐ. Thật ra, những ngày đầu về đơn vị, cũng là đầu đời nữa, đơn vị tác chiến của một binh chủng, dường như có nhiều người cảm thấy e ngại khi nhắc đến. Cuộc sống của binh chủng quá nhiều vất vả, hiểm nguy. Tôi cũng thấy rụt rè, lo âu, thái độ luôn luôn băn khoăn tự hỏi mình sẽ phải làm gì ở những ngày sắp tới, chẳng những âm thầm quan sát từng cử chỉ, đi đứng của anh em HSQ, binh sĩ nhất là mọi động tác của các vị sĩ quan, tôi đều ghi nhận để học lóm hầu có thể xài cho mình sau này.

Lần đầu tôi gặp Trần Đình Tự, tôi chào anh theo quân cách, Tự không đáp lại, mặt nghênh nghênh và cổ thì quẹo qua một bên. Tôi tức uất người, nhủ thầm : tên Thiếu Úy này lối, nghênh ngang và cao ngạo. Tôi ghìm trong đầu và luôn luôn quẩn quanh với thành kiến Trần Đình Tự khinh người, dĩ nhiên, tôi cũng cảm thấy không ưa Tự…

Tôi đem chuyện này kể lại với Thiếu Úy Lê Kỳ Ngộ, vị sĩ quan đàn anh và là thầy dạy tôi trong trường SQTB/TĐ, nay cũng phục vụ trong binh chủng BĐQ, anh ở ĐĐ3/33. Tôi than phiền với anh Ngộ về thái độ ngạo mạn của Tự. Anh Ngộ cười ngất : “Đ. ơi, tội nghiệp nó, không phải Tự nó nghênh hay kênh gì đâu, niễng niễng là có tật đấy, có lẽ hồi còn nhỏ nó bị gió máy làm vẹo cổ. Bản tính Tự trầm lặng chứ không phải nó ngạo mạn. Tôi biết rõ tính nết hắn nhiều lắm.” Anh Ngộ còn khuyên tôi: “Ráng hoà nhập với đời sống quân ngũ, lâu rồi sẽ quen. Có thể Tự và Đ. sẽ thân nhau hơn người khác không chừng”.

Thời gian lần lượt qua đi từng tháng, từng năm, chúng tôi sống phục vụ trong cùng đơn vị lần lượt đã đến vị chỉ huy thứ tư. Ông Tiểu đoàn trưởng thứ tư của chúng tôi ở TĐ33/BĐQ là Thiếu Tá Tử Thần. Có nhiều đổi thay trong đơn vị, nhiều sĩ quan đồng đội đã ra đi, người thì sau chuyến hành quân đã không chịu về với anh em, người thì chuyển đến đơn vị mới. Lúc này Tự là ĐĐT/ĐĐ33BĐQ và tôi coi ĐĐ4. Hai đứa chúng tôi đã là bạn thân, đã cùng nhau dong ruổi trên các miền lửa đạn. Và, năm 1971 trong chiến dịch hành quân ngoại biên, QLVNCH mở những cuộc hành quân sang Campuchia truy diệt và tiêu hủy những căn cứ Cộng Sản VN. Tháng 2-1971, trong cuộc hành quân trực thăng vận xuống căn cứ của SĐ7CS, trong lúc giao tranh Tự bị trúng mảnh đạn pháo vào đầu, anh được chuyển về Tổng Y Viện Cộng Hoà, rời khỏi TĐ33BĐQ từ đó.

Mùa hè 1972, Cộng Sản Bắc Việt ồ ạt dùng đại quân, đại pháo tấn công cường tập trên khắp các mặt trận, nặng nhất lúc đó là mặt trận Quảng Trị, hàng chục Sư đoàn chính quy vượt sông Bến Hải, vượt biên giới Việt Lào, đồng loạt tấn công thế như cuồng lưu, như biển động. Do đó Bộ TTM/QLVNCH đã điều động LĐ5BĐQ không vận ra tăng cường cho mặt trận QK1. Cũng lại tháng 2-1972, SĐ308 Tổng Trừ Bị CS, xe tăng, đại pháo tấn công điên cuồng LĐ5BĐQ, sự chênh lệch quá đáng về lực lượng đã khiến LĐ5BĐQ phải vừa đánh vừa lui dần về phía sau để chờ sự tăng viện, nhưng đến khu vực cầu Trường Phước, đoạn Quốc Lộ I cũ, LĐ5BĐQ bị lọt ổ phục kích của một Trung đoàn VC tăng cường đơn vị pháo. TĐ38 BĐQ do Thiếu Tá Vũ Đình Khang chỉ huy, Trần Đình Tự – sĩ quan Hành quân (Trưởng ban 3) nhận lệnh của Trung Tá Liên Đoàn Trưởng Ngô Minh Hồng phải đánh cản hậu, bằng mọi cách phải chặn đứng sức tiến cuồng bạo của địch để LĐ rút qua sông (gồm TĐ30, TĐ33 và BCH/LĐ). Tiểu đoàn 38BĐQ đã hoàn thành nhiệm vụ, riêng hai vị Sĩ quan đầu đàn của đơn vị cũng hoàn thành trách nhiệm là ở lại sau cùng để “con cái” qua sông an toàn và cuối cùng chính hai ông thẩm quyền: Vũ Đình Khang, Trần Đình Tự lọt vào tay giặc trở thành tù binh. Lý do lãng xẹt : cả hai không biết bơi, loay hoay cùng mấy người hộ tống đang “nghĩ kế” để vượt con rắn lục thì bị giặc đến cõng qua sông Bến Hải đem về trại tù Lạng Sơn.

1973 – Hiệp định Paris – ngưng bắn da beo, da cọp . Trao đổi tù binh, Trần Đình Tự lại trở về với gia đình Mũ Nâu, gắn bó đời mình với binh chủng BĐQ. Anh được thăng cấp Thiếu Tá và được cử làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ33BĐQ thay thế vị chỉ huy cũ, được điều động đi chỉ huy một đơn vị khác. Những ngày bão lửa, cuồng lưu của bom đạn đã qua. Hiệp định đình chiến đã ký kết, nhưng vẫn chưa có hoà bình. Giao tranh vẫn liên tục nơi này nơi kia. Liên đoàn 5BĐQ đã cải danh thành LĐ32BĐQ, cũng đã và đang cùng các LĐ/BĐQ khác bảo vệ tỉnh Bình Long. Mặt trận An Lộc, vẫn nặng nề trong âm mưu xâm lược.

Tháng 3-1975, trên toàn lãnh thổ VNCH tự nhiên vỡ ra từng mảng sau khi Ban Mê Thuột thất thủ. Hết nơi này “di tản chiến thuật” lại đến chỗ kia “tái phối trí”. LĐ32BĐQ lại một lần nữa theo lệnh, rời bỏ An Lộc để về tại phối trí, thiết lập tuyến phòng thủ bảo vệ tầm xa cho thủ đô Sàigòn, tuyến bố trí kéo dài một vòng cung từ Khiêm Hanh (Bầu Đồn) Tây Ninh kéo dài qua con Suối Cao-Gò Dầu, tạo thành một cái đê chặn đứng cơn nước lũ Cộng Sãn từ các mật khu Dương Minh Châu, Bời Lời, Bến Cát (Tam Giác Sắt) không cho con lũ này chảy về Sàigòn. Áp lực có nặng nề, cường độ giao tranh ngày càng cao, đạn pháo giã gạo trên đầu mỗi giờ mỗi tăng. Những người lính Mũ Nâu LĐ32BĐQ dưới sự chỉ huy điềm tĩnh và gan lì của Thuận Thiên (Trung Tá Lê Bảo Toàn) vẫn giữ vững phòng tuyến, chưa có khúc ruột nào bị cắt đứt hay chọc thủng và dĩ nhiên TĐ38 cùng các đơn vị bạn TĐ30, TĐ33, Đại Đội Trinh Sát 5BĐQ (do Cường Dương Tướng Quân Đỗ Minh Hưng chỉ huy – không hiểu tôi nhớ có chính xác không, nếu sai xin tha thứ). Hàng ngày, vẫn chia nhau “luộc” những con cua đồng, bộ binh chúng lần mò vào hàng rào phòng thủ thì năm yên tại đấy, không trở ra được nữa vì đã ăn no kẹo đồng.

Thế nhưng vận nước đã đến lúc phải chịu đau thương, thân phận người lính VNCH có chiến đấu dũng mãnh như sư tử đến lúc bị bức bách phải quy hàng, cũng đành phải nhẫn nhục buông súng. 11 giờ ngày 30 tháng 4 1975 tại Trung Tâm Hành Quân của Liên Đoàn, Thuận Thiên nhận được lệnh từ cấp chỉ huy Quân Đoàn :”Hãy ngưng bắn ngay lập tức, ở yên tại chỗ để đợi phía bên kia đến bàn giao khu vực”. Trung Tá Lê Bảo Toàn chết sững, buông cái ống liên hợp máy truyền tin rớt xuống đầu người lính đang ngồi dưới chân. Ông đổ vật xuống chiếc ghế như cây chuối bị đốn ngang. Hai mươi năm phục vụ quân ngũ – 19 năm dong ruổi vào ra vùng đạn bom, 5 lần bị thương lần nào cũng thập tử nhất sinh, nhưng chưa bao giờ ông thấy đau như lúc này. Ông nghẹt thở, buốt trong óc tưởng như ai đang đóng ngập cái đinh 10 phân vào đầu, có lẽ lấy kéo cắt ruột cũng chỉ đau đến thế.

Ông lịm đi, người sĩ quan Hành quân phải gọi khẽ :”Trung Tá!” . Ông gượng đau để lấy lại bản lãnh. Sau cú “sốc”, Trung Tá Lê Bảo Toàn đã điềm tỉnh trở lại. Ông cầm máy gọi lần lượt từng Trưởng : TĐ30 Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Khoản, TĐ33 Thiếu Tá Đinh Trọng Cường, TĐ38 Thiếu Tá Trần Đình Tự. Cả ba đã đáp nhận . Trung Tá Toàn chậm rãi, ông cố giữ cho tiếng nói của mình, với âm lượng đều đặn như mọi ngày:

- Các anh vặn nhỏ máy, tôi thông báo lệnh quan trọng.- Im lặng một giây, ông nói tiếp- Các anh ra lệnh cho “con cái” buông súng – Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng rồi. Sẽ có đại diện của “phe họ” đến để bàn giao. Cám ơn các anh, các vị Tiểu Đoàn Trưởng, các Sĩ Quan trong Liên Đoàn. Tôi cũng đặc biệt cám ơn các anh em Hạ Sĩ Quan, binh sĩ. Chúng ta đã bấy lâu công tác, sống chết với nhau. Nay, nhiệm vụ của tôi kể như đã chấm dứt, tôi không còn trách nhiệm với Liên Đoàn nữa. Thân chào tất cả anh em trong Liên Đoàn, lời cuối cùng của tôi trong cương vị Liên Đoàn Trưởng là yêu cầu các anh bình tĩnh và chúc tất cả may mắn.

Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong đời Trần Đình Tự đã cưỡng lệnh cấp chỉ huy. Sau khi nhận lệnh buông súng và lời chào của Trung Tá LĐT, anh quay qua Đại Úy Xườong – Tiểu Đoàn Phó TĐ38BĐQ

- Anh Xường, tôi vừa nhận lệnh mình phải buông súng đầu hàng. Đây là lần chót, tôi yêu cầu và cũng là lệnh: anh nói lại cho các Đại Đội Trưởng và thay tôi dẫn đơn vị ra điểm tập trung. Tôi sẽ ở lại, đánh nữa, tôi không đầu hàng, anh hiểu cho. Tôi không khi nào để chịu lọt vào tay tụi nó lần nữa.

Tiếp đó, anh cho tập trung BCH, Trung đội Thám Báo nói với họ là đã có lệnh quy hàng, các anh em sẽ theo lệnh Đại Úy Tiểu Đoàn Phó, còn ai muốn ở lại chiến đấu với anh đến giờ chót thì đứng riêng một bên. Lần lượt số người tách khỏi hàng được gần 40 chiến sĩ. Trần Đình Tự đưa tay chào Đại Úy Xường và các quân nhân dưới quyền, rồi dẫn những người quyết tử tiến vào khu vực vườn khoai mì để tiếp tục “ăn thua” với địch. Kết cục, cuộc chiến đấu cũng phải chấm dứt. Tự và anh em hết đạn, địch tràn ngập, bắt tất cả những người còn sống (9 người ) giải về sân trường Tiểu Học gần đấy.

Tên chỉ huy của giặc Cộng tiến về phía Tự lớn tiếng lăng nhục QLVNCH và chỉ ngay mặt Tự thoá mạ thậm tệ, rồi bắt anh cởi áo quần (lon Thiếu Tá may dính trên cổ áo). Tự đứng yên nhất định không chịu, tên VC rít lên: “đến lúc này mà mày còn bướng hả, lũ uống máu, bọn tay sai, những thằng ác ôn. Mày có làm theo lệnh của ông không thì bảo. Nhân danh cách mạng ông ra lệnh cho mày cởi áo quần ngụy và nằm xuống. Chúng mày đã đầu hàng, nghe rõ chưa!”

Tự cười đểu :

- Ai đầu hàng, nhưng tao thì không. Mày nghe đây. Chúng mày mới là lũ ác ôn, chúng mày mới đích thực là lũ tay sai, lũ vong thân chó má. Bọn mày là những tên tội đồ của dân tộc VN, hiểu không? Một lũ đê tiện!

Tên chỉ huy VC mắt nổi gân máu, tiến đến sát mặt Tự, giơ tay giật mạnh, bung hai hàng nút từ cổ xuống đến bụng. Tên giặc Cộng rút luôn con dao găm Tự đeo bên hông. Nó đâm thật mạnh vào bụng Trần Đình Tự, rọc mạnh xuống phía dưới. Ruột Tự lòi tuột ra ngoài. Chưa hả cơn, nó còn ngoáy mạnh mũi dao vào tận trong bụng Tự. Anh hét tiếng bi ai và nghẹn uất, đổ sụm xuống , oằn mình giật từng cơn trong vũng máu.

Đồng thời với hành động dã thú ấy, tên giặc nghiêng đầu nhìn Tự rồi nói gọn: “Đem những thằng này bắn hết đi! Toàn là ác ôn cả đấy!”

Tám quân nhân còn lại, bị dẫn ra phía sau trường để được bắn xối xả mấy loạt AK47. Xác họ bị quăng xuống các đìa gần đó. Bọn VC dẫn nhau bỏ đi.

Thiếu Tá Trần Đình Tự, bị giặc Cộng mổ bụng chết được hơn một tuần, gia đình ở Sàigòn nhận được tin. Vợ anh tìm đến nơi anh bị hành hình để xin xác chồng. Đau đớn cho chị, xác chồng đã chẳng thấy, lại còn bị những tên VC tại địa phương lớn tiếng sỉ nhục vong linh chồng mình. Chị đã quay về Sàigòn sau câu trả lời gọn lỏn của chúng: “Chồng chị là tên ngụy ác ôn, đàn áp bóc lột nhân dân, nợ máu quá nhiều, nhân dân nổi giận trừng trị. Cách mạng rất khoan dung không trả thù như vậy. Chị đi tìm nhân dân mà xin các anh ấy!”

Chưa hết. Sự trả thù đê hèn vẫn đeo đuổi theo từng cá nhân người lính VNCH, từng gia đình mỗi người. Năm 1985, tôi được thả về từ trại tù VC. Sau vài tháng tôi đến nhà Thiếu Tá Trần Đình Tự ở đường Dương Công Trừng (Thị Nghè) thăm ba mẹ Tự. Đến nơi được biết thân phụ anh phần uất hận, phần thương con – tất cả con trai của cụ, hai người anh Tự cũng bị tập trung vào trại tù Cộng Sản, Cụ đã lâm trọng bệnh qua đời năm 1975. Mẹ của Tự, bà cụ ở lại chịu đủ điều cay đắng, thương con Cụ lập bàn thờ Trần Đình Tự bên cạnh bàn thờ chồng. Tấm ảnh thờ Tự chụp lúc vừa được vinh thăng Thiếu Tá, nên anh mặc quân phục. Chính vì tấm ảnh thờ mà cách vài ngày mấy tên Cộng Sản địa phưong như Công An, Ủy Ban Nhân Dân lò mò đến để buông những lời lẽ mất dạy, vô luân, đốn mạt nhưng lại cao giọng đạo đức rẻ tiền.

- Cách mạng rất phân minh, rành rẽ mọi điều, tình tự dân tộc đều đâu ra đấy. Tội ai người ấy chịu. Bà thờ chồng, thờ con trai điều này đáng biểu dương, nhưng tấm ảnh tên ác ôn kia thì không được để đấy, bà phải cất đi, lấy ảnh khác mà để.

Thân mẫu Tự cố dằn cơn tức uất:

- Các ông thông cảm, Ở đâu thì theo đó, con tôi đã chết thảm, xác không có để mang về. Nó chẳng còn cái ảnh nào, chỉ có một, các ông để cho tôi thờ nó. Hàng ngày được nhìn thấy chồng, con vẫn ở bên mình.

Tên VC trả lời:

- Nếu không có cái khác thì cất đi hoặc để linh động, Cách Mạng nhất trí cho bà để cái ảnh nhưng lấy mực bôi cái lon lá và bộ quần áo ngụy đi.

Mẹ Tự nhất định không chịu, cứ để tấm ảnh trên bàn thờ cho đến một lần, chúng nó đem bà cụ ra tổ dân phố để “đấu tranh xây dựng”. Bà cụ nổi doá nói tướng lên:

- “Cách mạng khoan hồng”, “Cách mạng độ lượng” cái gì ? Bác Hồ có chỉ dạy các anh ép người dân đến mức này không? Hai năm liền chồng chết, con chết thảm, con đi tù, các ông muốn tôi phải thế nào hay là các ông giúp tôi chết phứt đi cho rồi. Tôi theo chồng theo con là khỏi khổ!”

Có lẽ vì thấy ép quá, không có lợi khi sự việc đã gây xầm xì trong khu vực, bọn VC địa phương lờ dần đi, không ghé nhà Tự để mè nheo, quấy rầy bà cụ nữa. Tự được yên thân trên bàn thờ, nhưng mẹ mình laị vĩnh viễn không được thấy con, dù là nhìn tấm ảnh: Cụ đã bị mù loà, sống lủi thủi trong bóng đêm của quảng đời còn lại với mấy đứa cháu nội.

THAY LỜI KẾT:

Câu chuyện về sự trả thù đê hèn và dã man của bè lũ Cộng Sản Việt Nam là hoàn toàn sự thật. Và dĩ nhiên sự trả thù, cung cách đối xử của Cộng Sản dành cho Quân nhân QLVNCh và gia đình hoàn toàn do chính sách, kế hoạch đã được chỉ thị từ Trung Ương xuống, nhưng nếu có ai hỏi đến chúng nó lại bỏ mép đổ vấy cho địa phưong, cho nhân dân, cho cá nhân nào đó nóng giận gây ra.

Sự đền nợ nước của Trần Đình Tự tôi kể lại hôm nay là do lời thuật lại của Đại Úy Xường – Tiểu Đoàn Phó TĐ38BĐQ. Anh cũng đã hy sinh trong trại tù CS Nghệ Tĩnh năm 1979. Tôi gặp Xường ở trại 8 Yên Báy năm 1977. Anh bị VC bóp cổ chết trong ngục thất vì sau nhiều lần trốn trại anh đều bị bắt. Xường xuất thân từ khoá 22A Võ Bị QGVN.

Người thứ hai thuật lại những giờ phút sau cùng của Cố Thiếu Tá Trần Đình Tự là người lính Mũ Nâu mang máy truyền tin cho Tự. Cùng bị tàn sát sáng 30-4-1975 một lượt với Tự và các anh em khác. May mắn, Đức Trọc – tên anh ta – bị thương giả chết chờ cho VC đi xa rồi ráng bò vào nhà dân, được dấu diếm băng bó, rồi thuê xe lam chở về Sàigòn.

Thoáng đấy mà đã 25 năm, dân Việt Nam sống trong kìm kẹp, đè nén của Cộng Sản. Người lính VNCH ở quê nhà chịu biết bao nỗi ê chề, cay đắng. Tự chết 25 năm, thân mẫu của anh có còn để giữ tấm ảnh của anh trên bàn thờ ? Vợ con anh nay ở phương nào? Vì năm 1976 vợ đem con về nương náu bên ngoại.

Xin cho Thiếu Tá BĐQ TRẦN ĐÌNH TỰ một nén hương truy niệm
Mũ Nâu THIÊN LÔI kể lại